trang sơ yếu của buivanbong

buivanbong

nam - 61 tuổi, Vietnam
568 các khách thăm quan

Blog 24


  • TIỀN NHÀ NƯỚC MÀ !

    TIỀN NHÀ NƯỚC MÀ!
    Chiều 25/7, tôi nhận được hai cuộc điện thoại ‘ấn tượng’. Kỹ sư Đang từ thành phó HCM nói; “Anh đọc mạng Tiền Phong và VTC chưa?”. Tôi nói : “Chưa đọc”. Anh Đang nói: “Sân vận động của nột huyện ngoại thành Hà Nội mà người ta xây dựng tốn cả chục triệu USD”. Lát sau, đại tá Hoàng Linh, CCB quân khu 9, gọi điện: “Ai cũng biết Tài nguyên- Môi trường là cái ổ tham nhũng, nhưng Kiểm toán Nhà nước lại họp báo khen ngợi là không có tham nhũng”.
    Tôi nghĩ: “cái ngày gì mà anh em toàn gọi điện bức xúc về chuyện lãng phí, tham nhũng”?
    Về nhà, tôi mở mạng, đọc. Báo đưa tin: Ngước mắt nhìn sân vận động hình “tổ chim” của huyện Hoài Đức (Hà Nội), choáng ngợp bởi quy mô quá hoành tráng với 4.000 chỗ ngồi có mái che, cỏ nhân tạo, riêng đầu tư hệ thống âm thanh nhà thi đấu của huyện này đã ngốn 7 tỷ đồng… Ấn tượng nhất phải kể tới sân vận động hình tổ chim mới hoàn thành ngay trong khuôn viên Trung tâm TDTT với 4.000 chỗ ngồi có mái che, mặt sân cỏ nhân tạo với hệ thống phòng họp báo, phòng vận động viên, ban tổ chức...dày đặc bao quanh khán đài càng làm tăng thêm vẻ hoành tráng cho cả quần thể.. Mới tính sơ qua, người ta đã vung tay chi tới trên 200 tỷ đồng tiền đầu tư xây dựng sân vận động ‘cấp huyện’ này. Đó là chưa kể bể bơi, nhà văn hoá đã khiến Trung tâm TDTT của huyện này còn vượt xa cả về quy mô so với một số công trình được đánh giá là lớn của Seagame 22.
    Trước một chi phí quá lớn đến mức ‘tá hỏa’ này, Phó GĐ Sở VHTT&DL Hà Nội Nguyễn Đình Lân đã phải thốt len:” Tôi đang quản lý sân vận động Hàng Đẫy có 1,9 vạn chỗ ngồi mà suốt từ Tiger Cup 1998 đến nay chưa bao giờ đầy mặc dù có nhiều trận đấu rất hay. Vậy mà cấp huyện lại xin xây sân vận động tới 2 vạn chỗ thì chỉ để nuôi dê thôi chứ để làm gì?”.
    Tôi lại tìm đọc để ‘xác minh’ cú điện thoại của động đội, đại tá CCB Hoàng Linh. Thì thấy bài: “Tài nguyên, Nội vụ không tham nhũng, Hà Nội oan tày trời” của tác giả Phạn Thanh, đăg trên web Phụ nữ today: Thống kê của ngành Tài nguyên - Môi trường và Nội vụ về đấu tranh phòng chống tham nhũng cho thấy, không phát hiện ra bất cứ sai phạm cụ thể nào. Điều này được minh chứng cụ thể ngay tại Thủ đô Hà Nội…Vừa lướt đọc lướt qua thông tin đó người viết dám cá chắc chắc rằng quý vị sẽ tặc lưỡi “tài nguyên – môi trường với tổ chức cán bộ mà không tham nhũng còn tìm tham nhũng ở đâu nữa, chả trách ít (hoặc không) phát hiện ra tham nhũng là phải rồi”. Có vị xem giải trí nhiều có khi còn “chế” câu nói nối tiếng của người đẹp Ngọc Trinh thành “làm cán bộ, công chức mà không tham nhũng thì cạp đất mà ăn à”, rồi “lấy tiền đâu xe đẹp mà đi”? Bài báo nêu rõ: Năm 2012, tại Sở Tài nguyên và Môi trường Hà Nội, gần 90% người dân được hỏi không hài lòng với thái độ thực thi công vụ của Sở này; 7,6% nói tình trạng nhũng nhiễu tiêu cực tại Sở này vẫn diễn ra phổ biến, bộ phận tiếp nhận và trả kết quả giải quyết thủ tục hành chính có tỷ lệ tiêu cực cao nhất (kết quả điều tra xã hội hội cuối năm 2012 của Ban Tuyên giáo Thành ủy Hà Nội thực hiện).
    … Tuy khẳng định là “trong sạch”, nhưng ông Nghĩa vẫn nói với báo giới rằng: “Chúng tôi đã quy định cấm cán bộ công chức trực tiếp nhận hồ sơ, đứng dưới sân giao dịch với doanh nghiệp để hạn chế tiêu cực”. Không có tiêu cực sao phải hạn chế - đánh giá của người viết…
    Với tài nguyên – môi trường là vậy, tiếp tới là ví dụ về tổ chức cán bộ (Nội vụ) của Hà Nội. Cuối năm 2012, sau câu nói nổi tiếng của ông Trần Trọng Dực, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Thành ủy Hà Nội rằng “chạy công chức tại Hà Nội không dưới 100 triệu/suất”, thậm chí ông Dực còn mạnh dạn chỉ ra đầu mối chạy là trưởng phòng nội vụ các quận, huyện.
    Lại một bài báo khác trên web VnExpress: “Kiểm toán Nhà nước lý giải chuyện lương 'khủng' tại Petrolimex”. Kết quả kiểm toán cho thấy, mặc dù kinh doanh thua lỗ nhưng Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam (Petrolimex) vẫn tiến hành xây dựng đơn giá tiền lương chưa phù hợp với hiệu quả kinh doanh.
    Báo cáo kết quả kiểm toán năm 2012 của Kiểm toán Nhà nước công bố sáng 25/7 cho thấy, một số đơn vị thuộc các tập đoàn, tổng công ty chưa xây dựng đơn giá tiền lương hoặc đã xây dựng nhưng chưa phù hợp.
    Chẳng hạn tại Petrolimex, Công ty mẹ và các công ty con xây dựng đơn giá tiền lương chung cho khối kinh doanh xăng dầu, sau đó tập đoàn giao đơn giá tiền lương cho các đơn vị trên cơ sở đơn giá tiền lương tổng hợp, không xây dựng, quyết toán đơn giá tiền lương riêng…
    Riêng tại Petrolimex, mặc dù tập đoàn này kinh doanh thua lỗ, nhưng lại thuộc diện “ưu tiên đặc biệt”, vì tập đoàn này có tham gia vào bình ổn thị trường, nên thu nhập của lãnh đạo được phép không căn cứ vào kết quả kinh doanh. Được biết, lương bình quân của cán bộ, nhân viên tại Petrolimex hiện ở mức trên 6 triệu đồng/người/tháng. Riêng trong ban lãnh đạo, lương chủ tịch tập đoàn là 58 triệu đồng/tháng, ủy viên hội đồng thành viên là 42 triệu đồng/tháng, trưởng ban kiểm soát 41 triệu đồng/tháng, phó tổng giám đốc 40 triệu đồng/tháng.
    Cách đây hơn một tuần, tại Giao ban Chính phủ, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dụng nói rất quyết liệt, ràng: Phải rà soát làm rõ các vụ việc tham nhũng, phải xiết chặt chi tiêu công, nhất là phải dứt khoát thực hiện những biện pháp quyết liệt để chống lãng phí. Trong tình hình kinh tế hiện nay,phải rất coi trọng thực hành tiết kiệm...
    Tuy nói vậy, nhưng làm không dễ như nói, và làm cũng khó được như vậy. Những Nhóm lợi ích sẽ biến hóa nhiều loại hình, kiểu dáng, với những thr đoạn ‘siêu liều’ để moi rỗng ngân khố quốc gia, tiếp tục tham nhũng nặng hơn, đa dạng và phức tạp hơn. Bởi đơn giản từ xưa đến nay: Tiền Nhà nước mà!
    BVB

  • KHÔNG THỂ TÙY HỨNG VỀ ĐỊNH HƯỚNG


    KHÔNG THỂ TÙY HỨNG VỀ ĐỊNH HƯỚNG

    * BÙI VĂN BỒNG

    Từ khi trên thế giới hình thành “thị trường không biên giới”, phá bỏ “dân ttọc hẹp hói”, “bế quan tỏa cảng”, tiếp đến là “bùng nổ thông tin toàn cầu”, cac xu thế hội nhập và toàn cầu hóa toàn diện (chính trị, kinh tế, khoa học công nghệ, văn hóa, xã hội,…) đồng hành với chất lượng, hiệu quả hội nhập quốc tế. Trong xu thế hiện đại đó, nước nào còn dính kiểu “bế quan tỏa cảng”, hoặc đi lạc điều định hướng phát triển, khoanh hẹp mọi sự trong nước theo thể chế chính trị cũ, lỗi thời, áp đặt chủ quan, thiếu khoa học, xa rời thực tiến là coi như tự phanh hãm.

    Kinh tế thị trường hình thành và phát triẻn trong xu thế đó, không ai (dù muốn) mà có thể cưỡng lại quy luật phát triển tất yếu. Những năm cuối thập niên 80 của thế kỷ trước, do đường lối đổi mới mạnh dạn xóa bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp chuyển sang knh tê sthị trường, nền kinh tế-xã hội nước ta đã được “cởi trói” nhiều mặt, tạo được đà, dựng được thế, mở hướng phát triển.

    Nhưng, đùng một cái, sau Hội nghị Thành Đô 9-1990 do Trung Quốc chủ soái, chính TBT Nguyễn Văn Linh lúc đó lại đưa bài viết ký tên N.V.L đăng trên báo Nhân dân, như tuyên bố chối bỏ, quay lại 180 độ với kinh tê thị trường xu thế hiện đại toàn cầu hóa, quay trở lại với mô hình, phương thức cũ: “Ta về ta tắm ao ta / Dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn”. NHơ lại thời đó, nay ai cũng còn ‘sởn gai ốc” với “sự kiện” đó. Nó bỗng gây bất ngờ thê giới và gây nghi ngờ, tá hỏa trong lòng dân, nhất là giới trí thức, các nhà khoa học, các nhà doanh nghiệp và không ít lãnh đạo các cấp, các ngành.

    Nhìn lại 27 năm về trước, tại Đại hội VI, được coi là “Khởi công, khai trương sự nghiệp đổi mới”, Báo cáo Chính trị nêu rõ: “Việc chậm đổi mới cơ chế và bộ máy quản lý, việc điều hành không nhạy bén, là những nguyên nhân quan trọng dẫn tới hành động không thống nhất từ trên xuống dưới. Một số người và cơ sở đã lợi dụng những sơ hở của cơ chế quản lý để mưu lợi ích cá nhân và lợi ích cục bộ… Chúng ta mới nêu ra được phương hướng chủ yếu của cơ chế mới, còn nội dung, hình thức, bước đi, cách làm cụ thể, thì còn nhiều vấn đề chưa giải đáp được thoả đáng cả về lý luận và thực tiễn”. Đánh giá đó đúng, và Đại hội VI đã triển khai có hiệu quả, làm thay đổi tình hình kinh tế-xã hội của đất nước. Có điều, sau biết bao thăng trầm, đánh giá ấy nay vẫn nguyên giá trị.

    Đến Đại hội VII, nêu phương hường: “…Thực hiện chính sách cơ cấu kinh tế nhiều thành phần trong hoạt động kinh tế đối ngoại dưới sự quản lý thống nhất của Nhà nước. Cùng với việc phát huy vai trò của kinh tế quốc doanh, khuyến khích các thành phần kinh tế khác tham gia vào hoạt động kinh tế đối ngoại”.

    Nhưng đến Đại hội VIII lại nêu quan điểm rất mới và lạ hoắc: …“Tiếp tục phát triển nền kinh tế nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa”,...Và: “Tiếp tục thực hiện nhất quán, lâu dài chính sách phát triển nền kinh tế nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa; phát huy mọi nguồn lực để phát triển lực lượng sản xuất, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá”...

    Cho đến nay, kinh tế thị trường có thể hiểu được, chỉ cần ra đường là thấy, nhưng có điều “định hướng XHCN chẳng thấy đâu. Cho nên rất cần làm rõ khái niệm “định hướng XHCN”. Theo GS Nguyễn Đức Bình, cựu ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh: Công thức này quá chung chung, trừu tượng”. GS Bình cũng nhấn mạnh: “Kinh tế thị trường tự bản thân nó không mang thuộc tính định hướng XHCN. Trái lại, thuộc tính tự nhiên của nó là tiến lên chủ nghĩa tư bản”.

    Còn, cũng khái niệm này, theo GS-TSKH Lê Du Phong (Đại học Kinh tế quốc dân): Khái niệm kinh tế thị trường định hướng XHCN khó giải thích rõ ràng nên nó làm cho chúng ta không triệt để trong đổi mới tư duy kinh tế. Từ đó, cơ chế, chính sách và các giải pháp tổ chức, quản lý nền kinh tế chúng ta đưa ra không rõ ràng, dứt khoát và minh bạch.

    Mô hình kinh tế thị trường hiện đại dựa trên nền tảng khoa học công nghệ tiên tiến, kết hợp hài hòa giữa bốn yếu tố: thị trường - nhà nước pháp quyền - xã hội dân sự - hội nhập quốc tế sâu rộng.

    Nhằm góp thêm ý kiến cho việc sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992, cần làm rõ nội dung khái niệm “có một không hai” trên thế giới này. Ngay như cái gọi là “Mô hình kinh tế tổng quát trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” cũng thấy thiếu cơ sở lý luận và thực tiễn và áp đặt nhiều ý kiến chủ quan. Cho nên, cái măt xích chủ yếu vẫn là: Nhà nước pháp quyền + chế độ dân chủ

    GS-TS Nguyễn Văn Nam khẳng định: “Dân tộc Việt Nam muốn “sánh vai với các cường quốc năm châu” thì không có sự lựa chọn nào khác ngoài phát triển kinh tế thị trường. Bởi vậy, mô hình kinh tế tổng quát mà Đảng ta xác định với vế đầu là “kinh tế thị trường” hoàn toàn đúng đắn và sáng suốt. Tuy nhiên, khi gắn vế sau vào (định hướng XHCN), thì phát sinh nhiều quan điểm chưa thống nhất và đúng là thiếu hẳn cơ sở lý luận cùng những minh chứng thuyết phục của thực tiến”.

    Do vậy hiến pháp sửa đổi lần này cũng cần làm rõ: Điều nhấn mạnh ở đây là việc đổi mới kinh tế chuyển sang kinh tế thị trường và mở cửa hội nhập nền kinh tế vào tiến trình phát triển hiện đại của nền kinh tế toàn cầu lúc đầu không phải xuất phát từ hệ tư tưởng mà chịu sự thúc ép và quy định của quy luật tăng sức sản xuất, tăng hiệu quả trong phát triển kinh tế. Khi hệ kinh tế Xô viết bất lực trong việc giải quyết các quy luật kinh tế trên thì chính quy luật thép của kinh tế đó giúp người ta vượt qua được vấn đề hệ tư tưởng để đổi mới và phát triển.

    Nhiều nhà khoa học cho rằng: Nói hai chữ “định hướng” thì phải có “hướng” để mà “định”. Nhưng đã có XHCN đâu mà cứ hô lên là “theo định hướng”; thấy gì đâu? Biét gì đâu? Nó là the snào mà theo? Sự phát triển của nhà nước pháp quyền và chế độ dân chủ trở thành mắt xích chủ yếu giữa kinh tế thị trường với thể chế chính trị. Chừng nào cái yếu tố dân chủ, tiềm lực nội tại còn bị coi thường và để lãng phí, thất thoát quá nhiều thì đừng nói đến phát triển. Về mặt chính trị, sự phát triển kinh tế thị trường trở thành bước ngoặt kết thúc các chế độ chuyên chế và hình thành chế độ dân chủ. Và không thể coi là đã hình thành nền kinh tế thị trường khi nhà nước chưa ra khỏi tình trạng quan liêu, tham nhũng phổ biến, mọi sự còn do chế độ “đảng toàn trị”, nhan nhản độc đoán chuyên quyền. Không thể coi là đã có nhà nước pháp quyền khi trong xã hội còn thiếu dân chủ và tính tự phát của người dân còn phổ biến.

    Về thực chất, định hướng kinh tế thị trường phải gắn với xác định mô hình kinh tế theo xu hướng thời đại: Định hướng phát triển bền vững, tức là “tăng trưởng kinh tế đi đôi với tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường” như đã nêu trong văn kiện của Đảng. Xu hướng này nảy sinh trên cơ sở sự ra đời và lớn mạnh của kinh tế tri thức. Vì vậy, muốn đi theo định hướng phát triển bền vững nền kinh tế, tất yếu phải sớm xây dựng nền kinh tế tri thức. Cả hai mặt đó đồng thời phát triển sẽ làm cho mục tiêu chính trị ngày càng hiện thực và mới có sức hấp dẫn. Một lãnh đạo chưa qua trường lớp nào về kiến thức kinh tế, về quản lý kinh té, nhưng lai được giao quyền điều hành vĩ mô, chỉ đạo mọi mặt của nền kinh tế nhiều thành phần thì quả là sự vô lý hết chỗ nói, và chắc chắn để lại hậu quả đặc biệt nghiêm trọng, kéo lùi sự phát triển, làm nghèo đất nước, làm khổ dân.

    Theo phân tích của các nhà nghiên cứu “Chính trị-kinh tế học”: Mô hình công nghiệp hóa dựa vào khai thác tài nguyên và nguồn lao động rẻ để thu hút đầu tư nước ngoài và dựa vào xuất khẩu để tăng trưởng kinh tế đã để lại hậu quả nặng nề về mặt xã hội và môi trường. Đây là mô hình đã lỗi thời, không phù hợp yêu cầu xây dựng nền móng của chế độ mới cũng như xu thế thời đại. GS.TS Trần ngọc Hiên nói: “Từ góc nhìn vận động của lịch sử, có thể nhận thấy bản chất kinh tế thị trường nhất định đi đến một xã hội tương lai. đó là xã hội mang bản chất nhân văn, xã hội của sự phát triển tự do và toàn diện của cá nhân mỗi người, xã hội phát triển trong quan hệ hài hòa giữa con người với con người và con người với tự nhiên sau một quá trình lịch sử đầy máu và nước mắt”.

    Tháng Tư, ngày kỷ niệm chiến thắng hàng năm, ai cũng nhơ nhằm lòng, không dễ gì quên được những hy sinh to lón, một chặng lịch sử “thấm đẫm máu và nước mắt”. Nhiều góp ý Sửa dổi Hến pháp 1992 đều rất tâm huyết và có trách nhiệm với đất nước, tương lai dân tộc, nền dân chủ, nhân quyền thực sự văn minh, tiến bộ. Khi định hướng tầm chiến lược cho một nền kinh tê-xã hội của đất nước không thẻ tùy hứng hoặc theo sự giáo điều, ấp đặt ý niệm chủ quan, mà phải có đầy đủ cơ sở lý luận rất khoa học, thực tiến, phù hợp với thời đại. Trên cơ sở đó, cần xác định cho rõ cơ chế song hành chính tri-kinh tế, có mục tiêu, phương hường phát triển kinh tê-xã hội phù hợp và đồng hành với thời đại trong xu thế hội nhập toàn cầu hóa hiện nay.

    BVB

  • Guong xo bep (?!)

    GƯƠNG XÓ BẾP (!:)
    * Bùi Văn Bồng
    Được yêu cầu “cứu trợ” Bộ trưởng Y tế trả lời chất vấn về an toàn vệ sinh thực phẩm, Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân, Trưởng Ban chỉ đạo liên ngành Trung ương về vệ sinh an toàn thực phẩm đề nghị: … "các đại biểu Quốc hội nên gương mẫu không ăn gà nhập lậu". Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng đế thêm: “chắc không biết được đâu, vì gà rán rồi, nướng rồi, làm sao biết được!”. Không thể hiểu cái "văn hóa bàn nhậu" bỗng dưng lại xen vào giữa nghị trường Quốc hội, nơi luận bàn tháo gỡ, xây dựng những việc trọng đại của đất nước, bàn chuyện quốc kế dân sinh. Cử tri thấy chẳng còn nghiêm túc gì nữa?
    Ôi, sao thấy nguy quá! Lại cũng đại hài hước nữa! Ông Nhân đừng biến Quốc hội quan trọng như thế thành "quốc hài", thành các diễn viên trên tầm tài Bảo Quốc, Minh Vượng...Các vị được dân bầu lên ngồi những cái ghế tầm cao đại diện cho toàn dân, cơ quan quyền lực cao nhất mà chỉ “làm gương” về ẩm thực vậy sao? Gương này không biết nên xếp vào loại gương gì, chẵng lẽ chỉ là “gương xó bếp”? Phó Thủ tướng kêu gọi nêu gương chi đơn giản có vậy, và Chủ tịch Quốc hội đế theo mà "pha trò" những cú lạ hoắc như vậy giữa Nghị trường thì quả nhiên các quan lớn chẳng coi các đại biểu QH ra gì, chẳng coi cử tri cả nước ra cái thá gì!
    Ông Thiện Nhân nói như thế ngay giữa nghị trường là muốn ám chỉ các vị dân biểu chỉ nghĩ đến "miếng ăn" thôi chứ gì? Họ chỉ quen ăn nhậu thôi chứ gì? Lại muốn truy gốc, khui tận căn nguyên cắc cớ là dân ta ăn gà nhập lậu bởi (tại, vì) các vị dân biểu không làm gương (?!). Từ đây trở đi, các vị dân biểu phải gác bớt công việc, nếu cần thì cáo lý do chính đáng không dự các cuộc họp, không đi cơ sở, không cả việc chỉ đạo điều hanh; mà phải cùng vợ, hoặc con cháu, hoặc ô-sin đi chợ, phải phát huy vai trò giám sát chặt chẽ, phát hiện, ngăn chặn kịp thời không cho người nội trợ trong nhà mua phải gà nhập lậu, để "làm gương"! Nếu thấy gà làm sẵn, nướng sẵn rồi thì dân biểu phải lấy ngay mẫu, đưa đi xét nghiệm ADN ( Acid Deoxyribo Nucleic), xem xuất xứ con gà này ở đâu, có đúng gà ta hay gà nhập lậu?
    Lâu nay nhờ màn ảnh nhỏ mà được trực tiếp nghe-nhìn các vị quan lớn của ta phát biểu. Không riêng trường hợp này của Nguyễn Phó, mà dân chúng đã thấy nhiều vị, nhiều lần bị "cướp cò mồm", phát ra những câu mà người xem truyền hình muốn bấm chuyến kênh ngay. Những lời phát biểu của các vị dường như chẳng cần để ý đến nội dung, tầm ảnh hưởng, uy tín , văn hóa lãnh đạo, không còn là "khuôn vàng, thước ngọc", mà bị tầm thường hóa thành "khuôn bánh, thước vải vụn"...
    Ôi, bi quan, thất vọng, rồi vô vọng!
    Ôi, cái tầm cao lãnh đạo của ta cứ ngày càng bị “lùn hóa” như vậy. Nhiều chuyện quốc gia đại sự, quốc kế dân sinh, gay gắt giá-lương-tiền-hàng, nguy cơ lạm phát lù lù trước mắt, nhất là tham nũng, nợ xấu ngân hàng... Rồi cả Nghị quyết T.Ư 4 cũng chưa triển khai ra môn ra khoai gì. Thế mà không đi sâu bàn bạc, mổ xẻ một cách nghiêm túc, thẳng thắn, đưa ra được quyết sách theo sở nguyện lòng dân, giải quyết bức xúc cho toàn xã hội. Thế mà thấy hầu như lại thấy xuất hiện cái kiểu thành viên Chính phủ nào cũng có cái màn kịch câu thời gian, pha loãng vấn đề, đánh lạc hướng dư luận… Nghị viện ở ta như vậy, quả là đã làm cho cử tri cả nước “buồn tưng bừng, vui tê tái”; không khéo nhiều người như bị "tẩu hỏa nhập ma"!
    B.V.B

  • Đừng ném tiền của dân....

    ĐỪNG ĐEM TIỀN CỦA DÂN NÉM VÀO NỢ XẤU!
    Đăng đàn giải trình về tình trạng nợ xấu của ngân hàng hiện nay, Thống đốc Nguyễn Văn Bình đưa ra sự so sánh rằng: So với khủng hoảng tài chính ở một số nước Đông Nam Á, tỉ lệ nợ xấu ở nước ta (8,6%, tương đương 202.000 tỉ đồng) như thế là thấp...

    (Mời xem trang Bvbqd: http://buivanbong.blogspot.com/)

    Nhưng ông Bình quên rằng, so sánh như thế là khập khiễng, là có ý tự nâng thành tích chống lạm phát của Ngân hàng Nhà nước (NHNN), tự biện minh cho sự kém cỏi trong quản lý, điều hành các chính sách tiền tệ và tự an ủi, trấn an dư luận. Bởi vì tỉ lệ nợ xấu ở một số nước có nền kinh tế mạnh hơn nước ta có thể cao hơn, nhưng đồng thời GDP hàng năm của họ cũng rất cao, nguồn thu ngân sách lớn, nguồn tiền trong ngân khố quốc gia của họ cũng lớn. Hơn nữa, mỗi thời điểm, hoàn cảnh, mỗi nước khác nhau, điều kiện và nguyên nhân khác nhau, so làm sao được. Trong khi đó, nước ta còn nghèo, mọi thứ đều thấp hơn họ cả chục lần, không thể đem ra so sánh như thế.
    Theo báo cáo của các ngân hàng tính đến tháng 6, nợ xấu toàn hệ thống là 117.723 tỷ đồng, chiếm 4,47% tổng dư nợ. Trong đó, khối ngân hàng thương mại nhà nước chiếm 3,96% tổng dư nợ với 54.600 tỷ đồng. Dư nợ của khối ngân hàng cổ phần là 41.00 tỷ đồng, tương đương 4,54% dư nợ. Thế nhưng, con số nợ xấu do Thanh tra Ngân hàng Nhà nước đưa ra lại lên tới 8,6% - gần gấp đôi của các tổ chức tín dụng trong khi mới tính đến 31/3. Quy mô nợ xấu theo cơ quan giám sát của Ngân hàng Nhà nước ít nhất là 202.000 tỉ đồng. Trong đó, theo Chánh Thanh tra Nguyễn Hữu Nghĩa, nợ nhóm 5 - nhóm có nguy cơ mất vốn - chiếm 40% tổng nợ xấu. Trong báo cáo giải trình gửi Ủy ban Thường vụ Quốc hội, ông thừa nhận nợ xấu của các tổ chức tín dụng có xu hướng tăng nhanh từ năm 2008 tới nay.
    Ông Nguyễn Hữu Nghĩa cho rằng nguyên nhân dẫn tới những con số khác nhau về nợ xấu là tình trạng phân loại nợ, ghi nhận nợ xấu trong báo cáo tài chính thấp hơn thực tế để giảm chi phí trích lập dự phòng rủi ro. Ông cũng cho rằng một số ngân hàng điều hành tín dụng bất cập đã để nợ xấu tăng cao như vừa qua. Nhiều tổ chức tín dụng có tốc độ tăng trưởng tín dụng hàng năm quá cao (trên 50%), trong khi khả năng về quản trị rủi ro, giám sát vốn vay còn bất cập.
    Theo đánh giá của nhiều chuyên gia, nợ xấu sau quý II có thể đã vượt trên 10% và việc thanh lọc "cục máu đông" rất cần kíp, phải được tiến hành càng sớm càng tốt. Trong khi đó, ông Lê Xuân Nghĩa - thành viên Hội đồng chính sách tài chính tiền tệ quốc gia - lại nhấn mạnh: "Nợ xấu đã lên quá lớn và các ngân hàng không có khả năng tự xử lý. Nếu để ngân hàng tự làm, cùng lắm mỗi năm chỉ giải quyết được 1%-2% nợ xấu".
    Có nhà phân tích kinh tế lại nhận dịnh rằng: Một trong những nguyên nhân khiến nợ xấu tăng cao là do các ngân hàng tăng trưởng quá nóng nhằm đảm bảo hiệu quả lợi nhuận trước áp lực tăng vốn. Tại phiên chất vấn Thống đốc NHNN chiều 21-8, đại biểu Đỗ Văn Đương (TP HCM) đề cập thẳng vào vụ ông Nguyễn Đức Kiên bị bắt tối 20/8: "Rất hoan nghênh cơ quan điều tra đã ra lệnh bắt giữ Nguyễn Đức Kiên, Phó chủ tịch Hội đồng sáng lập ACB. Ông Kiên còn là cổ đông chính của nhiều ngân hàng thương mại, việc này gây ra hậu quả xấu. Xin hỏi việc thao túng thị trường tín dụng của một số ngân hàng cổ phần thời gian qua và cố ý làm trái pháp luật, Thống đốc có nắm được không? Nếu nắm được thì có biện pháp xử lý thế nào?".
    Ông Bình trả lời ông Đương và trước các đại biểu, trước Ban Thường vụ Quốc hội là Bầu Kiên không liên quan gì đến ngân hàng ACB...Nhưng ít nhất dân ta và các đại biểu đã biết là Bầu Kiên đã kiếm được 1.750 tỷ từ thương vụ thu xếp 5.000 tỷ đồng mà Thống đốc Nguyễn Văn Bình chuyển cho BIDV với chỉ đạo phải chuyển cho NH Phương Nam vay. Trầm Bê đã chuyển vào tài khoản cho Kiên đầy đủ với Memo khác; chuyển tiền mua cổ phiếu mà chẳng có cổ phiếu nào được mua bán. Lại còn lập trên 50 công ty con rút tiền của Eximbank, Vietbank, Kiên Long Bank, ACB, Phương Nam Bank lên tới 70.000 tỷ đồng trong hàng chục năm qua trá hình dưới dạng đầu tư vào công ty con, vào dự án, vào chứng khoán để không phải trả lãi...
    Đại biểu Đương đã nói đúng hai nguyên nhân dẫn đến nợ xấu là do có sự cố tình thao túng thị trường tín dụng và hiện tượng cố ý làm trái pháp luật. Vì Nhà nước cho phép mở ra các loại hình kinh doanh tiền tệ tràn lan, lẫn lộn tiền với hàng, tiền với tài sản, tiền biến thành hàng hóa, thanh tra, kiểm toán thì lớt phớt, các báo cáo của cả hệ thống ngân hàng và cơ quan chuyên môn,cán bộ chuyên trach không trung thực mới sinh ra nhiều nợ xấu đến như vậy. Cạnh tranh giữa các ngân hàng, các công ty kinh doanh, cho thuê tài chính càng gay gắt thì đồng tiền ngày càng bị mất giá, nguy cơ lạm phát thêm tiềm tàng.
    Thời gian qua, dư luận dồn dập nhận các thông tin liên quan về những khoản nợ xấu của các ngân hàng khi doanh nghiệp phá sản, “biến mất” cùng những khoản nợ hàng nghìn, thạm chí hàng chục nghìn tỷ đồng. Những thông tin trên đang đặt ra nhiều lo ngại rằng, với hơn 48.700 doanh nghiệp giải thể hoặc ngừng hoạt động từ đầu năm đến nay, sẽ còn bao nhiêu vụ phá sản, vỡ nợ tương tự, tác động xấu đến hoạt động của các ngân hàng thương mại?
    Những hệ lụy của nợ xấu đối với hệ thống ngân hàng và nền kinh tế là điều không phải bàn cãi, nhất là khi tỷ lệ nợ xấu có xu hướng tăng và nền kinh tế còn nhiều khó khăn. Bên cạnh khó khăn chung của nền kinh tế, nguyên nhân chính làm gia tăng nợ xấu xuất phát từ chính các ngân hàng. Do đó, tìm kiếm giải pháp nhằm chặn đà tăng của nợ xấu, giảm thiểu tác động bất lợi của nợ xấu đối với hệ thống ngân hàng và nền kinh tế phải bắt đầu từ chính các ngân hàng, đồng thời không xem nhẹ nguyên nhân từ chính sách phân bổ, quản lý, điều hành chung.
    Sau khi xem trực tiếp phiên chất vấn chiều 21-8, ông Võ Thành Thống, Phó Chủ tịch UBND thành phố Cần Thơ, đã từng nhiều năm làm giám đốc Sở Tài chính, nói rằng: “Có lẽ do thời gian ít, hoặc có sự né tránh nào đó, người ta chưa đề cập đến tình trạng tiêu cực kiểu “đi đêm” của các ngân hàng. Đó là tình trạng cho vay tràn lan, không định mức, thiếu thẩm định kỹ trước khi cho vay. Đó là tình trạng ngân hàng bị lợi dụng rất nhiều, cán bộ ngân hàng được (cho phép, hợp pháp hóa) gia tăng các khoản thu và giàu lên rất nhanh. Có những người trong tay không có được bao nhiêu tài sản thế chấp, nhưng do biết “đường dây” do biết cách “đi đêm”, đã xoay xở, mánh lới, câu móc vay của ngân hàng cả nghìn tỉ đồng.
    Tài sản thế chấp có khi trị giá 1, nhưng do tiêu cực hoặc quan liêu, vô nguyên tắc trong khâu kiểm tra, thẩm định, do thỏa thuận "ăn chia", hoa hồng hoa sói đã cho vay vượt lên giá trị tài sản thế chấp tới 3 đến 4 lần, số tiền rất lớn. Có những người lập “dự án ảo” để lấy đất thế chấp, lập “công ty ma” để vay tiền ngân hàng mà nhanh chóng mang danh đại gia, nhưng đó hoàn toàn là tiền Nhà nước, thực chất là tiền của dân. Đại gia chỉ biết tìm cách moi tiền ngân hàng càng nhiều càng thấy còn ít, không sản xuất kinh doanh thực sự, làm sao có tiền trả vốn và lãi suất, sinh nợ đìa ra, không khả năng thanh khoản. Tài sản thế chấp đã vậy, nay con nợ “cao chạy xa bay rồi”, trốn biệt tăm mất dạng rồi, có đem ra định giá “phát mại” thì liệu thu về được bao nhiêu? Có những tòa biệt thự xây lên chỉ để làm "cò mồi", để cùng lúc móc nối nhiều ngân hàng đến "mục sở thị" thẩm định tài sản thế chấp rồi cho vay, không phải 70% giá trị tài sản mà lập hồ sơ đánh giá tài sản lên mấy lần, cho vay thêm cấp số cộng theo kiểu "xâu mánh" nữa. Tiền Nhà nước chảy hết vào các lỗ hổng kiểu đó thì lấy gì để phát triển kinh tế đất nước, nâng cao đời sống nhân dân?
    Nhiều cử tri ở quận Ninh Kiều (T.p Cần Thơ) cũng cho rằng: Có đại gia lại vay tiền ngân hàng rồi đổi ra USD, vàng, chuyển ra nước ngoài mở công ty, “xây tổ” lâu dài bên đó, đẩy giá vàng, ngoại tệ trong nước lên cao. Khi đụng chuyện là chạy trốn ra nước ngoài để hưởng nguồn tài chính do lừa đảo mà có. Đó là lối ăn cướp giữa ban ngày. Nhiều đại gia chơi mánh như thế dẫn tới hiện trạng các ngân hàng chịu bó tay lắc đầu trước những món nợ kếch sù khó đòi, bị trắng mắt ra với nợ xấu. Sự cố tình vượt qua các nguyên tắc, cho vay theo kiểu “ăn chia hoa hồng” giữa ngân hàng với khách hàng là thủ đoạn “đi đêm” chiếm dụng tiền Nhà nước, coi như sự cố tình tham nhũng có tổ chức. Ngân hàng nào do làm ăn tùy tiện, sai quy định của ngành và sai pháp luật, bị nợ xấu thì cần phải làm rõ và truy tố, tịch thu gia sản, bắt đền tiền cho Nhà nước, không có chuyện Chính phủ bỏ tiền Nhà nước ra để cứu vớt. Tiền Nhà nước ở đâu mà có? Suy cho cùng đó là tiền thuế của dân, tiền mồ hôi nước mắt của nhân dân.
    Phải ngăn chặn từ gốc các nguyên nhân khiến phát sinh tình huống nợ xấu, cái gọi là “quản trị rủi ro” đã có sự thỏa hiệp vùi lấp, xử nhẹ, hoặc cố tình mở lối thoát, bỏ qua. Những trường hợp ngân hàng phân phối lượng vốn lớn cho các doanh nghiệp được xem như “sân sau” là một ví dụ. Rất khó để kiểm chứng mức độ tuân thủ các chuẩn mực, nguyên tắc về "quản trị rủi ro" khi ngân hàng và doanh nghiệp "tuy hai mà một". Các “rủi ro đạo đức” khác trong hoạt động kinh doanh ngân hàng cũng được nhắc tới nhiều trong thời gian qua.
    Quan hệ tín dụng luôn có hai chủ thể là người vay (doanh nghiệp - DN) và người cho vay (NH). Vậy, khi nợ xấu xảy ra, trách nhiệm trước hết được quy ngay vào việc quản lý yếu kém của hai chủ thể kinh tế này. Cho nên, rất cần siết chặt các nguyên tắc trong các vụ việc thất thoát có chủ đích được gọi là “quản trị rủi ro” của hệ thống ngân hàng, không kể đó là ngân hàng ở quy mô nào. Đây là nguyên nhân gốc và căn bản khiến cho tỷ lệ nợ xấu, nợ khó đòi tăng cao.
    Thực tế cho thấy, các ngân hàng thương mại đã bước đầu tăng cường đầu tư cho công tác quản trị rủi ro, nhưng kết quả đạt được còn khiêm tốn. Trong bối cảnh kinh tế khó khăn hiện nay, việc rà soát, bóc tách các đối tượng khó khăn, có nhu cầu và năng lực sử dụng vốn thực sự để các khoản vay đến đúng đối tượng và đạt hiệu quả là rất cần thiết. Ngược lại, cần kịp thời xử lý các dự án lớn nhưng triển khai kém hiệu quả, kéo dài, gây tồn đọng vốn, thậm chí lâm vào tình trạng không trả được nợ.
    Nếu Công ty Mua bán nợ quốc gia hoạt động theo nguyên tắc kinh doanh trên thị trường như cơ chế mua bán nợ thông dụng trên thế giới thì xã hội không có lý gì không đồng thuận. Song, nếu công ty này trở thành cái túi hứng nhận nợ xấu cho hệ thống NH, số người phản đối sẽ nhiều, bởi nếu làm thế có nghĩa là Nhà nước lấy tiền thuế của dân để trả nợ xấu, trong khi các đại gia NH, những người phải chịu trách nhiệm về nợ xấu lại vô can. Cần tách hoạt động kinh doanh của Công ty Mua bán nợ quốc gia với những hỗ trợ trực tiếp, minh bạch của Nhà nước đối với các trường hợp cụ thể cần hỗ trợ. Đây hoàn toàn không phải giống kiểu "cầm đồ" như cái cách ví von lý giải của ông Thống đốc Bình trước các đại biểu Quốc hội.
    Trong những nguyên nhân chính của nợ xấu là công tác lãnh đạo, quản lý, điều hành hệ thống tài chính, tiền tệ quốc gia, sự lợi dụng bằng nhiều thủ đoạn chiếm dụng tiền Nhà nước theo kiểu hợp pháp hóa, chính sách hóa, sự kéo bè kết cánh đánh lừa bằng các thống kê, báo cáo thiếu trung thực trên báo cáo văn bản và mạng LAN. Thực tế tiền mặt chỉ được thể hiện những con số khô khan trên giấy, trên máy, không có thực vì đã chui vào các ngõ ngách chiếm dụng, tham nhũng, thao túng đầy tính toán mưu mô. Công tác thanh tra, kiểm toán, giám sát còn buông lỏng và trở thành hình thức, đối phó, thậm chí còn lợi dụng tung chưởng thả câu, "đục nước béo cò".
    Cạnh tranh kinh doanh tài chính, tiền tệ và việc chi dùng đồng tiền NHNN hiện nay cần phải minh bạch, quản lý, kiểm tra, thanh tra, giám sát chặt chẽ, lành mạnh, công bằng, đúng pháp luật. Theo đúng phương pháp khoa học quản lý kinh tế vĩ mô, đúng pháp luật, khi ngân hàng hoặc đơn vị kinh doanh tài chính nào do kém cỏi, hoặc quản lý tồi, để bị mất vốn mất lãi, thất thoát đến mức phải “sập tiệm” thì cần điều tra xác minh làm rõ nguyên nhân, nếu đã "chết" rồi thì "khai tử" luôn, đồng thời phải truy cứu trách nhiệm hình sự, thu lại tiền cho Nhà nước, bồi thường tiền cho khách hàng, nhất là nhân dân lao động, không nên vì lý do nào đó mà lấy tiền của dân để bù vào các khoản thâm thủng đã nằm gọn trong túi riêng của các đại gia lừa đảo, cố ý làm trái để vụ lợi cho cá nhân và nhóm lợi ích.
    Bùi Văn Bồng

  • Lúc này, ai viết hịch...?

    Lúc này, ai viết Lời hịch giữ yên Tổ quốc?
    Mới đây, nhân trong tiệc trà tọa đàm nhỏ về Biểu tình chống sự xâm lấn của Trung Quốc, bảo vệ chủ quyền biển-đảo, một người đồng đội, nay là tướng về hưu ở T.p Hồ Chí Minh, tâm sự: “Trước sự hung hăng, ngang ngược của Trung Quốc lấn chiếm Biển Đông, càng thương đất nước mảnh khảnh, nhỏ hẹp của ta. Ngẫm lại mọi sự, đúng là Việt Nam ta từ thời Hùng Vương dựng nước cho dến nay, ít khi có được hòa bình thực sự và bền vững. Bài học ngàn xưa cho thấy, với bản chất bành trướng từ đế quốc Đại Hán, Trung Quốc chỉ có lăm le xâm lăng mở rộng biên cương, đi thôn tính thiên hạ. Với một lịch sử như thế có thể tin được rằng Trung Quốc thật lòng đoàn kết, hữu nghị, thân thiện được với chúng ta được chăng? Nước mình, mình phải lo mà giữ. Giữ vững được là cho chính mình. Phải chủ động tự bảo vệ Tổ quốc mình thôi. Vì thế, nếu như sai lầm lớn và vẫn tin mong chờ Trung Quốc làm theo phương châm "16 chữ vàng", tinh thần quan hệ "4 tốt" thì thật là ảo tưởng ! Nếu vẫn cứ tin vào lời hứa của Trung Quốc, mà giữ thái độ nhân nhượng, nhún nhường, nhịn nhục, thỏa hiệp chỉ tổ rước hậu họa về sau mà thôi”.
    Ngừng một lát, đưa tay vuốt ngược mớ tóc bạc trên trán hói, ông hỏi tôi: “Theo ông, Bộ Chính trị có cần phải ra lời hịch, lời kêu gọi, hay văn bản gì đấy, đại loại là kêu gọi toàn quân, toàn dân vững vàng ý chí, huy động sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc để giữ vững nền độc lập-tự do, giữ vững chủ quyền, kiên quyết chống “giặc Tàu” thời hiện đại này hay không?”.

    Nghe tâm sự của người đồng đội, tôi càng nghĩ càng thấy đúng. Càng thương cho đất nước gồng mình chịu đựng gian nan, hiểm nguy, nghèo đói hết đời này đến đời khác, không bao giờ thoát được họa xâm lăng. Lời tâm sự của vị tướng về hưu có hai điểm làm tôi ngẫm nghĩ nhiều.
    Đúng thế, nước Việt Nam ta từ xa xưa cho đến tháng 7-2012 này coi như vẫn chưa có hòa bình thực sự. Tuy giành được độc lập, thống nhất đất nước đã 37 năm rồi, nhưng nền hòa bình, độc lập quý báu đó vẫn thấy rất còn bấp bênh, không khéo lại bị mất nước bất cứ lúc nào. Càng không thể chủ quan, tự mãn cười vui hết cỡ như cố TBT Lê Duẩn đã nói sau chiến thắng 1975: "Đất nước ta từ nay vĩnh viễn sạch bóng quân xâm lược" (?!). Vị lãnh đạo cao nhất của nước Việt Nam thống nhất mới vừa say sưa trong ánh hào quang chiến thắng, mạnh mẽ tuyên bố hào hùng như vậy, thì ngay sau đó chiến tranh biên giới Tây nam, rồi biên giới phía Bắc kéo cả nước vào cuộc tổng động viên. Dạo đó, ta tin "Bạn láng giềng hảo -hảo" tuyệt đối đến mức chẳng để ý gì, cả một mưu đồ muốn thế chân Mỹ nhảy vào chiếm Việt Nam và cả Đông Dương như vậy mà không ai biết, lãnh đạo rất chủ quan. "Biết mình, phải biết người, biết đich biết ta trăm trận trăm thắng", thế mà để bị bất ngờ. Khi nhận ra sự thâm hiểm của "ông anh Tàu" đến mức như vậy đã phải tốn biết bao máu xương của chiến sĩ ở Campuchia và biên giới phía Bắc, bây giờ hậu họa còn bày ra đó. Bài học còn mới cóng như vậy, đừng ai chóng quên, hoặc cố tình quên đi! Người cầm quyền trong một nước lúc nào cũng phải cẩn trọng, phải chu toàn, tỉnh táo, sai một li đi một dặm, có những cái tưởng chỉ như là sơ suất mà "Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn / Vùi con đỏ xuống hầm tai vạ".

    Nhìn từ thời Hùng Vương, vua Hùng đã dựng Cột đá thề để chống giặc phương Bắc. Các tướng sĩ phải làm lễ thề ngay tại cột đá, để vững chí sắt đá mà chống giặc ngoại xâm giữ nước Âu Lạc. Cho đến cả mấy nghìn năm sau vẫn chưa yên bóng thù, rồi nghìn năm Bắc thuộc, từ Đinh, Lê (tiền), Lý, Trần, Lê (hậu) lo đánh giặc cả Nguyên Mông và Đại Hán. Rồi đánh Pháp, đánh Mỹ. Nay lại phải đối phó với hiểm họa xâm lăng mới.
    Thực chất, với TQ thì xưa nay ai chẳng thấy máu bành trướng cứ dâng lên phừng phừng, không có độ dừng. Từ nghìn xưa, tuy đất rộng, người đông không nước nào sánh bằng, nhưng TQ vẫn còn lấn chỗ này một chút đường biên, chen chỗ kia chút biển, nhòm ngó đảo này đảo kia của nước láng giềng.
    Nhìn lại, ý đồ bành trướng có quy mô, có tầm chiến lược ghê gớm nhất của TQ là từ những năm cuối thập niên 60 của thế kỷ trước. Khi ấy, đánh hơi thấy khả năng VN sắp giành được chiến thắng giặc Mỹ, sẽ giải phóng được miền Nam, thống nhất đất nước, TQ đã sắp sẵn ý đồ đã có từ lâu hòng thế chân Mỹ thôn tính Đông Dương. Đối với TQ, không riêng Việt Nam mà cả bán đảo 3 nước Đông Dương nằm ở một vị trí chiến lược, là cửa ngõ phía Nam nằm trong tầm ngắm của họ từ lâu, như một “nhiệm vụ” truyền đời, là miếng mồi ngon thèm thuồng, lăm le cả nghìn năm chưa dễ nuốt. Nhiều đời, ngoài giặc Nguyên Mông hùng mạnh mà người Hán ở Trung Nguyên chịu lép vế, khi đụng đến Việt Nam phải chịu thua đau, thì bên đế quốc Đại Hán, từ giặc Ân, giặc Tống, giặc Minh đến giặc Thanh đều không “bình định”, chinh phục nổi Việt Nam, thậm chí nhiều nơi đã cắm quan người Tàu cai trị đến tận quận, phủ, nhưng rồi cũng bị người Việt Nam đánh cho tơi tả, ôm đầu máu chạy về cố quốc.

    Thực ra, nếu theo dõi lịch sử quan hệ giữa hai nước từ mấy nghìn năm, chúng ta hiểu rất rõ là Trung Quốc muốn chiếm đoạt VN từ lâu rồi, nhưng khi quân Minh bị tan tác, đến đời nhà Thanh thua trận Ngọc Hồi-Đống Đa, đang hằm hè phục thù bởi vì TQ vẫn không hề từ bỏ ý đồ xâm lược, thôn tính VN đất nước chúng ta. Nhưng từ cuối thế kỷ 19, tình thế trong nước và khu vực có nhiều chính biến, thực dân Anh và phát xít Nhật cùng chiếm Trung Quốc, nhà Thanh bị diệt vong, VN bị Pháp xâm lược, rồi sau 1954 lại bị Mỹ can thiệp, Mỹ xâm lược, TQ có muốn đánh chiếm VN cũng phải đành chờ thời cơ. Thật là “miếng ngon mất đi sầu bi phát khùng”.

    Từ những năm 60 của thế kỷ trước, tuy quan hệ hai nước từng được ca ngợi như trong bài hát “mối tình hữu nghị sáng như vầng dương, chung một ý, chung một lòng” (bài hát Việt Nam-Trung Hoa), nhưng Trung Quốc vẫn cái lối chơi kẻ cả, trịch thượng, không ngừng chèn ép VN đang bị đế quốc Mỹ xâm lược. Ai đã từng chứng kiến và theo dõi thời cuộc vào cuối những năm 60, đầu thập niên 70 của thế kỷ trước đều biết rất rành rẽ ngọn nguồn về những khó khăn trong giải quyết mối quan hệ "môi hở răng lạnh" với nước láng giềng “núi liền núi, sông liền sông” này.
    Thời đó, cả hai nước lớn trong phe XHCN là Liên Xô và Trung Quốc đều ủng hộ Việt Nam đánh Mỹ. Liên Xô ủng hộ bởi muốn giữ vững và mở rộng thành trì CNXH ở khu vực Đông Nam Á. Còn Trung Quốc, với sự tiếp nhận chủ nghĩa Mác nửa vời và giả hiệu để dựa thế Liên Xô, ý thức về CNXH chỉ là sự ngụy trang, chủ yếu ủng hộ VN là muốn đánh bật Mỹ ra khỏi Đông Dương. Miền Bắc XHCN thời kỳ đó là tấm lá chắn yên lành cho Trung Quốc trước thế mạnh của Mỹ. Trung Quốc rất sợ suốt dọc biên giới với Việt Nam và Lào có quân Mỹ trú đóng, nên dù trong thâm tâm không muốn đi nữa thì Trung Quốc cực chẳng đã phải giúp VN đánh Mỹ để được yên lành. “Giúp bạn là tự giúp mình” – khẩu hiệu hành động giúp VN của TQ là vậy.
    Vì thế, xét động cơ chủ đích của TQ giúp VN là coi như tự giúp mình, tự chủ động “giữ yên cho mình”, nếu như không giúp VN đánh Mỹ, để cho đế quốc đầu sỏ đầy sức mạnh này mà chiếm được cả VN thì TQ sẽ bị đặt trong sự đe dọa trực tiếp nguy to ngay tại biên giới Việt-Trung và vùng biển Nam đảo Hải Nam.
    Nếu như để cho Mỹ chiếm được cả nước Việt Nam, ngay sát nách Trung Quốc thì coi như “thượng phong tiêu thế, đại kế tiềm vong” (cái thế thượng phong bị triệt hãm, mưu lớn bị mất). Thế nên, thời đó cả Liên Xô và Trung Quốc đều “nhiệt tình” dồn sức ủng hộ VN, muốn Mỹ phải cuốn gói nhanh khỏi VN. Cũng là giúp VN đánh Mỹ, nhưng Liên Xô giúp trang bị vũ khí tối tân, hiện đại, chuyển giao kỹ thuật sử dụng và tác chiến hiện đại kể cả tên lửa, máy bay phản lực, xe tăng. Còn Trung Quốc chỉ giúp một số vũ khí bộ binh nhẹ, quân trang (quần áo Tô Châu, mũ cối, giày dép, lương khô, bi đông đựng nước uống...).
    Xét về tư tưởng, mưu mô và động thái của nhà cầm quyền Bắc Kinh thì Đặng Tiểu Bình có "mối quan tâm" sâu sắc nhất đối với Việt Nam. Thấy Mỹ mạnh, Đặng Tiểu Bình nhận ra một thực tế của bối cảnh là rất khó mà đánh được Mỹ ra khỏi Đông Dương, đành dùng kế sách thỏa hiệp với Mỹ để "hai bên cùng có lợi" (... "Ngươi không đụng đến ta thì ta không đụng đến ngươi&quot:). Nhưng lại không muốn Mỹ chiếm cả VN, mà tán thành với Mỹ một hiện trạng Việt Nam có hai miền, điểm ngăn cách là Vĩ tuyến 17. Trước năm 1966, Đặng Tiểu Bình trong Ban Thường vụ Bộ Chính trị, làm Tổng Bí thư nhưng chỉ là nhân vật đứng cuối cùng (thứ 6) trong Ban Thường vụ, sau Mao Trạch Đông (Chủ tịch Đảng), Lưu Thiếu Kỳ, Chu Ân Lai, Chu Đức, Trần Vân rồi mới đến Đặng Tiểu Bình (đều là Phó Chủ tịch Đảng). Nhà cầm quyền Bắc Kinh bắt tay ngầm với Mỹ và thù Liên Xô, muốn mượn sức Mỹ để làm suy yếu Liên Xô từ lâu rồi. Trong phái đoàn sang thăm Trung Quốc của Chủ tịch Hồ Chí Minh có Đại tướng Võ Nguyên Giáp, "quái nhân" Đặng Tiểu Bình đã nhắn nhe với Đại tướng Võ Nguyên Giáp là "ông không được vượt qua Vĩ tuyến 17!". Lúc ấy, Trung Quốc bắt tay với Mỹ chấp nhận VN hai miền như Triều Tiên, và coi miền Bắc là "khu đệm" để giữ an toàn cho họ.
    Năm 1979, khi thấy VN mở chiến dịch đánh bè lũ Khmer Đỏ, Đặng Tiểu Bình vội sang thăm Mỹ nhằm bình thường hoá quan hệ hai nước. Ngay sau đó ông chỉ đạo "dạy cho Việt Nam một bài học" trong chiến tranh biên giới Việt-Trung. Cuộc xâm lược trên toan ftuyeens biên giới phía Bắc VN nhằm hai mục đích. Thứ nhất, cắt đứt quan hệ với các nước XHCN (trực tiếp là Liên Xô và các nước XHCN Đông Âu thời đó), đề ra học thuyết XHCN mang bản sắc Trung Quốc. Thứ hai, hành động gây chiến nhằm tạo dựng lòng tin với đối tác Mỹ và kết quả là 10 năm sau đó, Mỹ liên tục viện trợ về công nghệ, khoa học kỹ thuật cho Trung Quốc.

    Nhìn lại, suốt 61 năm Pháp đô hộ Việt Nam, trước uy lực của các nước thực dân, đế quốc hùng mạnh, Trung Quốc không dám đụng gì đến Biển Đông, cho dù rất muốn, nhưng vẫn phải im lặng trong cay cú và tiếc nuối, cố gằng chờ thời. Năm 1945 Việt Nam tuyên bố độc lập, Pháp rút, năm 1946 quân Tàu Tưởng liền tranh thủ cơ hội chiếm một số đảo nhỏ ở Hoàng Sa và hòn đảo lớn Ba Bình thuộc Trường Sa. Không để đất nước mới độc lập rơi vào tay quân Tàu Tưởng khi đã thấy rõ dã tâm và hành động của chúng, Bác Hồ đã buộc phải thỏa hiệp ký Hiệp định sơ bộ 6-3-1946, để Pháp dẹp Tàu Tưởng.
    Trung Quốc định tiếp tục thừa cơ đánh chiếm cả quần đảo Hoàng Sa thì Pháp quay lại xâm lược VN lần thứ hai. Khi phải đành lòng co chiếc “vòi bạch tuộc” không dám ho hoe đụng đến Biển Đông suốt 9 năm, đến năm 1954 VN chiến thắng Điện Biên Phú. Năm 1955 Pháp vừa rút, lập tức năm 1956 Trung Quốc cho quân ra chiếm một số đảo phía Đông Hoàng Sa. Mỹ lại nhảy vào VN, Trung Quốc không thể ra quân đánh chiếm Hoàng Sa đang do quân đội chính quyền Sài gòn chiếm giữ , đâu dám tuyên bố, tranh chấp gì ? Năm 1973, theo Hiệp định Pa-ri, Mỹ vừa rút tháng 1-1973, lập tức ngày 19-1-1974, sau khi Mỹ đã thỏa hiệp việc bình thường hóa quan hệ Mỹ-Trung qua chuyến thăm Bắc Kinh của Tổng Thống R.Nixon vào tháng 2/1972 , biết rõ Hoa Kỳ chắc chắn sẽ không quay lại can thiệp vào Đông Dương, quân Sài Gòn đang suy yếu , miền bắc đang dồn sức giải phóng miền Nam, Trung Quốc liền tung lực lượng ra chiếm gọn quần đảo Hoàng Sa vào ngày 19-1- 1974.

    Mặt khác, cũng ngay sau Mỹ rút vào đầu năm 1973, Trung Quốc chiêu tập, nuôi dưỡng, huấn luyện các thủ lĩnh Khmer Đỏ để diệt chủng hết người dân Campuchia, đưa dân Trung Quốc vào chiếm toàn bộ Campuchia, ép VN từ phía Tây nam (“diệt hết hắc hầu, đưa người Tàu sang”, TQ ám chỉ người dân Campuchia là giống khỉ đen- hắc hầu). Đâu phải ngẫu nhiên nội tại đất nước Chùa Tháp này tự nứt nòi ra cái bè lũ diệt chủng Pôn-pốt, Iêng-xa-ri, Khiêu-xăm-phon độc tài phát xít tự hại chính dân nước mình như thế? Cái gốc sâu xa của cuộc nội chiến, gọi là “Xây dựng chế độ Cộng sản Pôn-pốt”, gây ra cảnh tang tóc đầu rơi như sung rụng, máu chảy thành sông chỉ trong hơn 3 năm đã giết gần 2 triệu người CPC, xem ra không ai khác mà chính là TQ, ông thầy Tàu đầy mưu sâu kế độc thâm hiểm do lòng tham mở rộng cương thổ bá quyền.
    Việt Nam giải phóng Campuchia ngày 7-1-1979, mưu đồ thay chân Mỹ nhảy vào Đông Dương coi như bị tiêu tan, Trung Quốc lòng lộn trả đũa “Dạy cho VN bài học” hùng hổ xua quân xâm lược trên toàn tuyến 6 tỉnh biên giới phía Bắc. Năm 1984, Trung Quốc rút quân về sau một tháng đánh phá không thành. Năm 1988, TQ cho quân tấn công quần đảo Trường Sa chiếm thêm một số đảo nhỏ và bãi đá ngầm làm bàn đạp để thực hiện mưu đồ thâu tóm toàn bộ biển đông sau này.
    Nếu tính từ khi VN rút toàn bộ quân tình nguyện VN rút quân về nước, từ năm 1989 đến nay mới được 22 năm tạm coi là thời kỳ hòa bình. Gọi là "tạm" bởi vì suốt 22 năm qua, Trung Quốc vẫn không ngừng lấn chiếm, gây bất ổn trên Biển Đông. Thế nên, ông bạn tướng về hưu của tôi nói chí phải: Việt Nam cho đến nay vẫn chưa có hòa bình thực sự.
    Nay, cũng vì “cái lưỡi bò” đầy tham lam muốn liếm nuốt hết Biển Đông mà Trung Quốc đang thực hiện chiến lược “Ba bước lấn tới” đối với VN và các nước Đông Nam Á. Chiến lược đó là: Vùng biển-đảo đang yên lành là chủ quyền của nước khác thì nhà cầm quyền Bắc Kinh tuyên bố là chủ quyền của Trung Quốc, gây ra tranh chấp. Bước thứ hai: Trung Quốc kêu gọi: “Gác tranh chấp, cùng khai thác”, như câu chuyện ngụ ngôn “Sói gửi chân”. Bước thứ ba (khi sói đã chui vào được hang thỏ), Trung Quốc chiếm đoạt luôn. Trung Quốc không bao giờ từ bỏ mưu đồ đánh chiếm Việt Nam và toàn Đông Dương, làm bàn đạp tiếp tục mở cõi xuống khu vực Đông Nam Á.

    Người lính già đồng đội của tôi nói rằng trong lúc này rất cần phải có “Hịch, Lời kêu gọi giữ vừng độc lập, chủ quyền, cứu nước”. Thực tế đã vậy, các nhà lãnh đạo Việt Nam ta phải nhận diện cho rõ: Trước mắt chúng ta là bạn, láng giềng hữu nghị, giúp nhau thực lòng, là đối tác tin cậy, hay thực chất là đối tượng tác chiến? Bởi vì bản chất và âm mưu của Trung Quốc là không dễ gì thay đổi. Cần nêu cao cảnh giác, giữ vững lập trường và rất cần bản lĩnh, ý chí, nếu cần phải xác định ý chí bảo vệ đất nước “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”. Hiện nay, đất nước đang bị đặt ra trước hiểm họa xâm lăng mới, liệu rằng những trang trại, biệt thự, xe hơi của các vị quan tham và các đại gia có còn giữ được không? Nếu chỉ lo vơ vét làm giàu trong khi đất nước đang lâm nguy thì quả là nhìn đời chỉ một gang tay trước mắt. Không còn ai nghi ngờ rằng, cái quy luật việc đã đến thì sẽ phải đến. Nếu không nhìn sâu xa bản chất, mưu đồ, thủ đoạn của Trung Quốc thì còn bị mắc lừa, bị lao theo mồi câu mệt nhoài rồi bị mắc mưu sâu kế hiểm thật là thảm hại, là mối nguy cho đất nước, dân tộc.
    Trước họa đất nước bị xâm lăng, mấy nghìn năm trước, vua Hùng dựng Cột đá thề, nay vẫn còn và trở thành di tích tham quan ở Đền Hùng. Tiếp đến, Hai Bà Trưng thế kế nghiệp xưa vua Hùng; Đinh Tiên Hoàng dựng nước, dựng kinh đô, đổi niên hiệu, chính ngôi vua, khẳng định độc lập dân tộc, bỏ được chế độ triều cống của nước chư hầu với Thiên triều Trung Quốc; Lý Nam Đế xuống chiếu kêu gọi cả dân tộc thề giữ nước, dựng xây cơ đồ nước Vạn Xuân; Lý Thường Kiệt tuyên bố “Nam quốc sơn hà Nam Đế cư…”; rồi Bình Ngô đại cáo, Hịch tướng sĩ, Tuyên ngôn Độc lập. Trong hai cuộc kháng chiến mới đây, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến”, rồi “Lời kêu gọi toàn quốc chống Mỹ cứu nước”…

    Hịch tướng sĩ của Trần Hưng Đạo kêu gọi: “Nay các ngươi trông thấy chủ nhục mà không biết lo, trông thấy quốc-sỉ mà không biết thẹn, thân làm tướng phải hầu giặc, mà không biết tức, tai nghe nhạc để hiến ngụy sứ, mà không biết căm; hoặc lấy việc chọi gà làm vui-đùa, hoặc lấy việc đánh bạc làm tiêu-khiển, hoặc vui thú về vườn ruộng, hoặc quyến-luyến về vợ con, hoặc nghĩ về lợi riêng mà quên việc nước, hoặc ham về săn-bắn mà quên việc binh, hoặc thích rượu ngon, hoặc mê tiếng hát. Nếu có giặc đến, thì cựa gà trống sao cho đâm thủng được áo-giáp; mẹo cờ-bạc sao cho dùng nổi được quân-mưu; dẫu rằng ruộng lắm vườn nhiều, thân ấy nghìn vàng khôn chuộc; vả lại vợ bìu con díu, nước này trăm sự nghĩ sao; tiền-của đâu mà mua cho được đầu giặc; chó săn ấy thì địch sao nổi quân thù; chén rượu ngon không làm được cho giặc say chết, tiếng hát hay không làm được cho giặc điếc tai; khi bấy giờ chẳng những là thái-ấp của ta không còn, mà bổng-lộc của các ngươi cũng hết; chẳng những là gia-quyến của ta bị đuổi, mà vợ con của các ngươi cũng nguy; chẳng những là ta chịu nhục bây giờ, mà trăm năm về sau, tiếng xấu hãy còn mãi mãi; mà gia-thanh của các ngươi cũng chẳng khỏi mang tiếng nhục, đến lúc bấy giờ các ngươi dẫu muốn vui-vẻ, phỏng có được hay không?”.
    Mới đây, trả lời phỏng vấn của báo Đại đoàn kết, Luật sư Trần Công Trục, nguyên Trưởng ban Biên giới Chính phủ đã đưa ra những quan điểm rất rõ ràng: Có ý kiến cho rằng những sự việc TQ liên tiếp gây hấn ở Biển Đông thời gian gần đây như bắt bớ ngư dân, tuyên bố về thành phố Tam Sa thậm chí trắng trợn mời thầu quốc tế 9 lô dầu khí trong vùng đặc quyền kinh tế của ta là một hành động "trả đũa”, là thứ "đòn gió” để "răn đe” Việt Nam thôi vì Quốc hội Việt Nam vừa thông qua Luật Biển vào ngày 21-6-2012. Tuy nhiên, nếu xét các chuỗi hành động của Trung Quốc từ nhiều năm qua trên Biển Đông nhằm áp đặt yêu sách "đường lưỡi bò” thì có thể thấy hành động trên đây của họ là một bước tiến nằm trong kế hoạch lâu dài, một sự dấn tới có tính toán đã được vạch ra từ trước rồi.
    Đó là một loạt các hoạt động tiếp tục thực hiện chiến lược tiến ra Biển Đông với yêu sách, âm mưu muốn "biến Biển Đông thành ao nhà của họ”. Họ đã vạch ra và đang từng bước thực hiện dã tâm đó.

    TQ chỉ muốn giải quyết vấn đề Biển Đông bằng đàm phán song phương, không muốn đàm phán đa phương, vì cơ sở pháp lý để biện minh cho hành động của họ ở Biển Đông là rất yếu. Nếu quốc tế hóa vấn đề này thì sẽ có những chuyên gia giỏi của thế giới sẽ phanh phui sự thật là TQ đang có hành vi xâm lược nước khác.
    Đặc biệt, nếu TQ tiếp tục các hành động vô lý, ngang ngược như vừa qua thì mình đã có Luật biển rồi. Phải thực thi Luật. Họ đã cố tình vi phạm ngay trên thềm lục địa của chúng ta chứ không phải vùng tranh chấp nào cả. Vì vậy chúng ta phải thực thi ngay những biện pháp theo đúng tuần tự pháp luật.
    Vào cảnh huống này càng thấy nước Việt Nam ta liên tục phải chiến đấu chống giặc ngoại xâm để giữ yên bờ cõi, đời nào cũng phải thường trực ý thức nêu cao cảnh giác. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cảnh báo: “Giành được độc lập dân tộc đã khó, giữ vững nền độc lập càng khó hơn”. Nay vẫn chưa thực sự được sống trong hòa bình yên vui. Thế nên, cần có Hịch cứu nước, rất cần có Lời kêu gọi toàn quân, toàn dân đoàn kết, trên dưới đồng lòng, giữ vững toàn vẹn chủ quyền lãnh thổ, lãnh hải thiêng liêng của Tổ quốc Việt Nam.

    Bùi Văn Bồng
    ---------------------------

  • Mời đọc và cho ý kiến

    ... Đảng ta theo nguyên tắc điều lệ là Đảng cầm quyền, cho nên Đảng phải thể hiện rõ vai trò tiên phong, vị trí lãnh đạo, phải có thực quyền. Không thể kéo dài tình trạng “Đảng phất cờ, Nhà nước ngó lơ, Quốc hội chỉ hô, Chính phủ làm ngơ, pháp luật lơ mơ, nhân dân trông chờ”…Mong lắm thay lần này có đổi mới thực sự, và cũng phải đem lại hiệu quả thiết thực ...

    Bài theo đường LINK này:

    http://buivanbong.blogspot.com/2012/05/tong-bi...

  • + Loạn "sứ quân kiểu mới"?


    LOẠN “SỨ QUÂN KIỂU MỚI”?

    Sử sách còn ghi: Đinh Tiên Hoàng (924-979) là vị vua sáng lập triều đại nhà Đinh, nước Đại Cồ Việt. Ông là người có công đánh dẹp loạn 12 sứ quân, thống nhất giang sơn và trở thành hoàng đế đầu tiên của Việt Nam sau 1000 năm dân tộc bị họa lâm vào cảnh Bắc thuộc. Đại Cồ Việt là nhà nước mở đầu cho thời đại độc lập, tự chủ, do Đinh Bộ Lĩnh mở nước, lập đô, lấy niên hiệu với tư cách người đứng đầu một vương triều bề thế…Nay, nước ta có 63 tỉnh, thành phố, với gần 700 quận, huyện. Rồi còn các bộ, ngành, tập đoàn kinh tế, tổng công ty…Dưới còn có trên 11.000 xã, phường. Nhưng trong những năm gần đây, ở các tỉnh, thành, quận, huyện và cả cấp xã đã xuất hiện có sự tùy tiện tỏ ra “toàn quyền”, quan liêu, lộng hành, hống hách với dân, làm sai các Nghị quyết của Đảng, các chủ trương, chính sách, pháp luật của Nhà nước và Chính phủ.
    Như thế, thời nhà Đinh có 12 sứ quân mà dẹp loạn đã khó, nay ta lại có hàng trăm “sứ quân kiểu mới” hay sao? Có những thực trạng, những vụ việc mà các cấp lãnh đạo bên trên có biết, nhưng chậm chỉ đạo khắc phục, nghe báo cáo một chiều, để cho cấp dưới lộng quyền cưỡng bức mạnh tay vớii nhân dân, gây phản ứng cho xã hội. Nhưng có những vụ việc cấp ủy, chính quyền hầu như được “dựa hơi” lãnh đạo cấp trên, bộ, ngành Trung ương nên họ hành động, ra những quyết định sai trái, tỏ ra không ngán ai, sinh ra dư luận làm mất uy tín Đảng, Nhà nước. Như thế chỉ nặng về tập trung, kiểu chế độ tập quyền, độc đoán, vi phạm nghiêm trọng quyền dân chủ.
    Cấp ủy Đảng, chính quyền, nơi người dân đặt niềm tin vào chế độ, nhưng lại không thực hiện đúng nghị quyết Đảng, làm sai chủ trương, sai chính sách, sai pháp luật, gây mất dân chủ, làm xói mòn và đi đến mất niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước thì loạn quá rồi còn gì!
    Hiện nay, các chủ trương, chính sách của Đảng triển khai thực hiện quá chậm, thiếu đồng bộ, kém hiệu lực, thiếu tổng lực và không nghiêm minh. Sự độc đoán, chuyên quyền, vi phạm nghiêm trọng và bất chấp kỷ cương pháp luật ngày càng nhiều, quyền dân chủ không được tôn trọng, chưa nói đến các mỹ từ như “phát huy, nâng cao quyền dân chủ”…. Ngay như trong Báo cáo Chính trị Đại hội XI của Đảng cũng chỉ rõ: Nhân dân bị chặt đi quyền dân chủ, không còn được thực thi và phát huy vai trò giám sát, hoặc nếu có cũng chỉ là hình thức. Đối thoại Đảng với dân, chính quyền với dân không thực hiện thường xuyên, còn mang tính hình thức và không hiệu quả. Những lợi ích hợp pháp của dân không được coi trọng. Điển hình như vụ Tiên Lãng, vụ Văn Giang, vụ ở Đắc Nông, và nhiều nơi khác. Tháng 3 mới rồi, hàng trăm công an ở thành phố Cần Thơ được huy động rần rần đến một nhà dân chỉ có hai ông bà già ở phường Phú Thứ, quận Cái Răng, để cưỡng chế thu hồi đất. Hai ông bà già bị oan ức, kêu gào thảm thiết. Có những trường hợp đau lòng như ông Đỗ Kim Đễ, cựu chiến binh, cựu Đảng ủy viên, cựu Ủy viên Ủy ban Kiểm tra Đảng ủy xã, hiện đang giữ chức Chủ tịch MTTQ Việt Nam xã Quỳnh Lâm, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình, do nhiều năm kiên quyết và kiên trì chống tham nhũng mà bị khai trừ Đảng.
    Trong thực tế, mặc dù Chính phủ và các bộ, ngành ở Trung ương đã chỉ đạo, nhưng cấp địa phương vẫn giải quyết chưa kịp thời, hiệu quả thấp và chậm những vấn đề mới phát sinh; chưa tạo được sự đổi mới về chất lượng hoạt động của Quốc hội và các cơ quan dân cử; sự điều hành của Chính phủ có những mặt vẫn bỏ qua sự kiện, vụ việc và những vấn đề phát sinh, những “điểm nóng”. Chính quyền các cấp và các đoàn thể nhân dân, nhất là cán bộ đảng viên, người đứng đầu chưa thực sự gắn nhiệm vụ, chức trách với những hoạt động thực thi dân chủ.
    Đã nhiều khóa, nhiều nhiệm kỳ qua, có cái lạ là việc gì cũng chờ Thủ tướng giải quyết. Nhưng Thủ tướng giải quyết rồi, giao cụ thể cho địa phương, thì địa phương lại tìm cách “hoãn binh”, tìm lý do kêu khó, kéo trì chậm hoặc không làm theo, có khi làm ngược lại (như vụ Tiên Lãng, Hải Phòng). Bộ máy Đảng, chính quyền và các bộ, ngành được xây dựng và trao quyền đầy đủ, tại sao không làm mà cái gì cũng phải đợi quyết định và sự trực tiếp giải quyết của Bộ Chính trị, Ban bí thư, Thủ tướng?
    Theo thể chế chính trị: Đảng lãnh đạo trực tiếp, tuyệt đối, toàn diện. Vai trò và chức năng điều hành của Chính phủ cũng rất quan trọng đối với địa phương, bộ, ngành. Có một số vụ việc, các quan địa phương hầu như được dựa dẫm,”chống lưng”, hay được động tác “bật đèn xanh” của cấp cao hơn, cho nên từ Bí thư Tỉnh ủy, Thành ủy, Chủ tịch UBND, cả Ban Thường vụ lại rất nghênh ngang đến mức “làm liều, làm tới, coi dân như cỏ rác”. Vì vậy, dễ gì tự nhiên có nạn “sứ quân” mà còn là nạn kiêu binh, hống hách...cường hào đối với người nông dân do có vấn đề chia đất, ăn phần...của lãnh đạo nhiều cấp từ dưới lên trên.
    Đây là sự thực trạng biểu hiện trên dưới đã cùng nhóm lợi ích để hợp sức bảo vệ quyền lợi cho cá nhân. Chỉ có lô gích này mới giải thích được sự kiện Tiên Lãng, Văn Giang hay nhiều nơi khác, dẫn tới người dân bị cướp đât đến mức trắng tay, bị đàn áp oan khốc. Họ còn đưa CA tham gia vào cưỡng chế cũng nằm trong mục đích này, hay nói khác đi lực lượng "vì dân phục vụ" nay đã biến thành lực lượng đàn áp cưỡng chế bằng bạo lực góp tay với người đi cướp đất của bà con nông dân và trở thành nạn kiêu binh, đánh đập, bắt người tàn bạo đến mức hung ác trắng trợn. Chính sách đàn áp như thế là nguyên nhân gây mất ổn định trong xã hội, đánh mất bản chất, ý nghĩa của một chính quyền cách mạng "do dân vì dân và của dân". Đó là sự “tự diễn biến” ngay trong nội bộ Đảng, chính quyền của ta, không nên đổ cho “thế lực thù địch” nào khác.
    Luật hành chính, quy định lãnh đạo và phục tùng, tập thể lãnh đạo - cá nhân phụ trách, quy định cấp dưới phải phục tùng cấp trên đều có đủ, nhưng “trên bảo dưới không nghe, dưới tỏ ra khinh nhờn, không nể trọng trên”. Nếu không có một quyền lực mạnh đứng ra bảo bọc, che chắn, thậm chí chỉ đạo thì cũng chưa chắc đã xảy ra tình trạng lạm quyền, tùy tiện, bất chấp của các cấp chính quyền địa phương, cơ sở.
    Thực trạng này đã và đang rung lên tiếng chuông cảnh báo về hiện tượng những “sứ quân kiểu mới”. Sự tùy tiện và lộng quyền của một số chính quyền ở địa phương như biểu hiện “cát cứ ngầm” ngay trong nội tại thể chế hính trị-xã hội. Có vụ việc phức tạp cần Trung ương, bộ, ngành cấp trên về giải quyết, nhưng khi Trung ương về rồi thì người dân không được giải quyết theo chỉ đạo của trên, mà lại bị trả thù, trù dập. Thế nên có câu ca: “Bộ đến rồi bộ lại về / Dân đen như vẫn nằm kề vực sâu…”. Như thế, khác nào cấp Trung ương, cấp bộ, ngành thuộc Trung ương chỉ giải quyết một cách đại khái, nửa vời, còn lại vẫn giao quyền cho địa phương “tự giải quyết”. Họ đã làm sai, nhưng được giao quyền và tiếp tục sai trái
    Vụ Văn Giang (Hưng Yên) thì lại có hiện tượng rất khác thường, không riêng huyện mà tỉnh, cả bộ cũng có can dự vào. Lãnh đạo cấp tỉnh, huyện và hàng nghìn chiến sĩ, nhân viên cánh sát, dân phòng tham gia cưỡng chế chớp nhoáng bằng vũ lưc như vậy, phải chăng là có sự rút kinh nghiệm từ vụ Tiên Lãng, tránh để dây dưa, kéo dài, vì sao? Dự án Ecopark là một dự án dân sự mà lại có sự can thiệp tích cực của Đảng bộ, Chính quyền (chấp hành mệnh lệnh của ai, ở cương vị nào mà đến mức như vậy:). Trong vụ đau lòng và trắng trợn này, vai trò của MTTQ, Hội Nông dân, Đoàn Đại biểu QH ở tỉnh Hưng Yên đi vắng hết hay lặn đi đâu mất tăm rồi? Sao không giải quyết khiếu nại, tố cáo bảo vệ quyền lợi chính đáng cho người dân? Nếu cần sao đưa ra tòa án để tranh tụng và chấp hành theo kết luận của tòa, thực hiện nhà nước pháp quyền ?
    Qua đó, thấy có những vụ việc mà địa phương tùy ý làm, cố ý làm trái, ép dân, tuieens hành các biện pháp quá mạnh tay, nóng vội để đạt mục đích riêng của người đứng đầu, của phe nhóm. Vậy mà khi Trung ương chỉ đạo cũng không thực hiện nghiêm, thậm chí còn báo cáo sai sự thật. Trong vụ cưỡng chế thu hòi đất ở xã Xuân Quan, huyện Văn Giang (Hưng Yên), theo bài do Chánh văn phòng UBND Bùi Huy Thanh dứng tên, đăng trên trang Cổng thông tin điện tử tỉnh Hưng Yên: “Dự án được Chính phủ, các Bộ, ngành, cơ quan chức năng của Trung ương và địa phương đều thống nhất cao về chủ trương, biện pháp giải quyết…Quán triệt tinh thần chỉ đạo của Chính phủ, dưới sự chỉ đạo trực tiếp tại hiện trường của đồng chí Bí thư Tỉnh uỷ và đồng chí Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, các cơ quan chức năng của tỉnh, các lực lượng thực hiện hỗ trợ thi công và cưỡng chế của huyện Văn Giang, sự hỗ trợ của Bộ Công an và Công an tỉnh, đã thực hiện tốt phương án đề ra, đảm bảo an toàn tuyệt đối về người, tài sản của nhân dân và các lực lượng tham gia hỗ trợ thi công, cưỡng chế. Nhưng bài viết này trên trang “lề Đảng” cũng nêu: “đảm bảo tuyệt đối an toàn về người và phương tiện; được đông đảo cán bộ, đảng viên và nhân dân huyện Văn Giang nói chung, xã Xuân Quan nói riêng đồng tình ủng hộ”. Có đánh đập, xô xát, có đổ máu mà gọi là an toàn, lại được nhân dân đồng tình thì cũng lạ…(đọc bài tại đây) .
    Thủ tướng và bộ chủ quản chỉ đạo Hưng Yên nhanh chóng giải phóng mặt bằng, bàn giao đất cho chủ đầu tư để bảo đảm kế hoạch, tiến độ. Còn quy trình, kế hoạch, biện pháp phải do địa phương, do những cán bộ và người chỉ huy trực tiếp làm nhệm vụ thực hiện. Khi có hàng trăm hộ dân chưa bằng lòng giao đất, phải nghĩ đến việc bồi hoàn chưa thỏa đáng, người dân quá bị thiệt thòi mới đấu tranh. Hoặc là công tác dân vận, giải thích cho dân chưa được tiến hành đủ độ, còn kém, bị dân phản ứng, khiếu kiện đông người. Đúng ra, từ Tỉnh ủy, UBND tỉnh đến Huyện ủy, UBND huyện Văn Giang và xã Xuân Quan phải bình tĩnh, khách quan điều tra, phân tích vấn đề, thực hiện đúng quy chế dân chủ cơ sở, thực hiện công tác tuyên truyền, giải thích, kèm theo chính sách hợp lý, bồi hoàn thỏa đáng, đúng pháp luật, không để dân bị thiệt thòi, thì việc hàng trăm người dân chống đối quyết liệt đâu có xảy ra? Nếu phần tử xấu kích động thì làm sao mà có số lượng hàng trăm người dân nghe theo kích động? Dư luận vẫn đánh giá bản chất vấn đề: Theo Luật đất đai 2003, “đối với dự án sản xuất, kinh doanh phù hợp với quy hoạch sử dụng đất đã được xét duyệt thì nhà đầu tư được nhận chuyển nhượng, mua hoặc thuê quyền sử dụng đất, nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất của các tổ chức kinh tế, hộ gia đình, cá nhân mà không phải thực hiện thủ tục thu hồi đất”. Do vậy, Ecopark ở Văn Giang, với nội dung đã công bố và quảng cáo rộng rãi, hiển nhiên là dự án kinh doanh, chủ đầu tư chỉ được phép nhận chuyển nhượng, thuê quyền sử dụng đất, nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất của các tổ chức kinh tế, hộ gia đình, cá nhân; chính quyền không được phép thực hiện thủ tục thu hồi đất.
    Việc cho lực lượng công an rầm rộ, có vũ trang cưỡng chế đất cho các dự án kinh doanh, các khu đô thị mới… trong những năm gần đây gây nhiều bức xúc, làm người dân giảm sút lòng tin. Vụ cưỡng chế thu hồi đất ở Văn Giang lại nhằm vào nông dân nghèo khó chất phác, lấy đi mảnh đất mồ hôi nước mắt và cả máu xương họ mới có được, kế sinh nhai duy nhất của họ, để giao cho dự án kinh doanh của một vài người giàu. Nhưng việc bồi hoàn, giải tỏa còn nhiều khuất tất, thiếu công bằng sòng phẳng, để cho dân bị nhiều thiệt thòi thì hoàn toàn không nên. Dân thì vẫn là dân, muốn được thực hiện quyền dân chủ do Đảng lãnh đạo, chính quyền quản lý, đâu phải địch mà vạch phương án, điều động lực lượng, xử lý tình huống, mạnh tay trấn áp như vậy? Trong bàì viết tựa đề “Phải thay đổi tư duy thu hồi đất”, tác giả Võ Văn Tạo đã viết: Bất cứ vụ cưỡng chế nào tương tự Tiên Lãng hay Văn Giang, cũng đi ngược với tuyên bố mới đây của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng: “Chúng ta cần một hệ thống chính trị mà quyền lực thực sự thuộc về nhân dân, do nhân dân và phục vụ lợi ích của nhân dân, chứ không phải chỉ cho một thiểu số giàu có… Pháp quyền dưới chế độ XHCN là công cụ thể hiện và thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, bảo vệ lợi ích của đại đa số nhân dân… Nguy cơ đối với đảng cầm quyền là tham nhũng, quan liêu, thoái hoá…”
    Chắc chắn trong vụ này cả Chính phủ và bộ chủ quản không ai chỉ đạo phải bắt dân, đánh đập dân, kéo lôi dân như băt lợn, bắt bò, coi dân không bằng con vật. Sự phẫn uất của dân cũng do cách làm nóng vội, mất dân chủ, mất tình người của các “sứ quân”. Chính phủ chỉ đạo nội dung công việc, quy mô dự án, còn cách thức làm, quy trình tổ chức thực hiện, bồi hoàn cho dân ra sao, phân công, điều động lực lượng thế nào là do địa phương. Nhưng khi có chuyện thì địa phương thường tung tin là vụ này do “Chính phủ chỉ đạo”. Họ cứ đưa Chính phủ ra để ngụy biện cho việc làm sai trái, gây hậu họa mất dân chủ, gây bất bình nghiêm trọng. Việc này, cần kiểm điểm và thi hành kỷ luật nghiêm khắc đối với những cán bộ, chiến sĩ công an khi tiếp xúc, giải quyết các vụ tranh chấp dân sự với người dân. Theo ông Nguyễn Trung, cựu thành viên Ban nghiên cứu của Thủ tướng Chính phủ (khóa trước) và Viện Nghiên cứu Phát triển IDS: “Nhà nước của dân, do dân…không được phép trấn áp dân. Việc huy động một lực lượng lớn (có người nói khoảng 500, có người nói khoảng 1000) cảnh sát cơ động có vũ trang, các lực lượng không quân phục khác, một khối lượng lớn xe cộ, sử dụng cả vũ khí dù không gây sát thương để trấn áp dân cho mục đích cưỡng chế, lại xảy ra ngay sát thủ đô Hà Nội, báo động một chiều hướng phát triển vô cùng nguy hiểm cho đất nước, nhất thiết phải tìm cách ngăn chặn”.
    Hầu như tỉnh, thành nào cũng có những vụ việc phức tạp, mất dân chủ mà căn nguyên vấn đề là do chính quyền địa phương công khai móc nối, kết giao, thông đồng với đại gia, chủ doanh nghiệp, mượn thế lực công an để cưỡng chế, thu hồi đất của dân. Họ là công an nhân dân, nhưng thực chất trong những trường hợp cưỡng chế, truy dẹp người dân một cách hùng hổ như vậy, công an cách mạng là của nhân dân ở chỗ nào, nhân dân được nhờ ở họ những gì? Câu khẩu hiệu “Vi nước quên thân, vì dân phục vụ” nay họ thực hiện được những gì? Những hành động “quá tả”, hùng hổ, mạnh tay trấn áp mà bỏ qua công tác tuyên truyền, vận động, thuyết phục, có đúng với bản chất và nhiệm vụ của công an trong chế độ ta. Họ chỉ quen hành động theo mệnh lệnh một cách mù quáng, làm sai quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, phục vụ cho quyền lợi của một số cá nhân có chức có quyền, các nhóm lợi ích, phục vụ cho các đại gia có lắm tiền sẵn sàng thuê mướn. Đã có không ít vụ công an nghe lệnh chính quyền và phục vụ chỉ đạo của chính quyền, của chỉ huy đi cưỡng chế thu hồi đất trái pháp luật đã đánh đập, hành hạ nhân dân (xem vidioclip và một số list tin cùng nội dung trong trang youtube.com).
    Trong “6 điều Bác Hồ dạy công an” có ghi rõ: “Đối với tự mình phải cần-kiệm-liêm-chính. Đối với nhân dân phải kính trọng, lễ phép” Vậy kiểm điểm lại, công an của ta nay thực hiện 6 điều dạy của Bác Hồ đến đâu? Được bao nhiêu? Công an là “thanh bảo kiếm trung thành bảo vệ Đảng, bảo vệ nhân dân”, nhưng khi dính vào những vụ như thế thì đã thực sự dùng “thanh bảo kiếm” đó để bảo vệ uy tín Đảng lãnh đạo, bảo vệ nhân dân như thế nào? Sao không nghe lời Đảng như nghị quyết, sao lại quên lời Bác dạy, sao không bảo vệ nhân dân? Thật là đau lòng khi thấy công an vì “giúp” chính quyền và đại gia lấy đất của dân mà đã hành xử người dân thảm thương như vậy (xem tin, ảnh tại đây).
    Thế nên, cần phải nghiêm túc nhìn nhận, đánh giá đúng thực trang, thực chất xã hội, cần phải xem lại có hay không trong thể chế xã hội VN đã xuất hiện loạn nhiều “sứ quân kiểu mới”? Nếu có, đã đến mức nguy hại gì? Hậu họa sẽ dẫn tới thế nào? Thực trạng nguy hại này cần được nhận diện cho rõ, làm sao để thực hiện đứng như phương hướng Đại hội XI đã đề ra cho nhiệm lỳ 2011-2016: “Thực hiện tốt hơn Quy chế dân chủ ở cơ sở và Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn. Phát huy dân chủ, đề cao trách nhiệm công dân, kỷ luật, kỷ cương xã hội; phê phán và nghiêm trị những hành vi vi phạm quyền làm chủ của nhân dân…Chống tập trung quan liêu, khắc phục dân chủ hình thức. Quan tâm hơn nữa việc chăm lo hạnh phúc và sự phát triển tự do, toàn diện của con người, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của con người, tôn trọng và thực hiện các điều ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam ký kết”.
    (BV:)[nickname][object Object][/nickname]

  • + Buông và nắm

    BUÔNG VÀ NẮM

    Lãnh đạo là kỳ vọng của mọi người, dù bất cứ ở cấp nào. Cho nên, để người đời nhìn nhận về mình ra sao, chính người lãnh đạo phải biết tự chủ, và nhất là phải có lòng tự trọng. Khi đã ở vị trí lãnh đạo, phải làm gì cho người ta tin yêu, mến phục, và đặc biệt là ấn tượng về những điều tốt đẹp. Về Đảng, ở cương vị lãnh đạo nào thì cũng chỉ một hoặc vài nhiệm kỳ theo đúng quy định. Về chính quyền thì còn tùy nhu cấu, có vị làm cấp phó, làm giám đốc tới trên 20 năm. Thế nên, trong khi thực hiện chức danh, chức trách ở cương vị lãnh đạo, ai cùng cần để lại dấu ấn, những tiếng lành, lời ngợi khen và nhất là hiệu quả đem lại cho công việc cơ quan, địa phương, ngành, đất nước.
    Thế nhưng, có những vị lãnh đạo “kéo” hai nhiệm kỳ, chẳng để lại được dấu ấn gì. Thậm chí, người ta còn nói, trong 10 năm lãnh đạo, ông ta đã kéo lùi sự phát triển của cộng đồng cả mấy chục năm. Như thế là tội, dâu phải công, nhưng vẫn “hạ cánh an toàn”. Và như thế là lãnh đạo bị tai tiếng, chứ không thể trở thành danh tiếng. Rồi hết làm lãnh đạo, những nhân vật như thế cũng chẳng để lại cho đời được gì, thậm chí chỉ là những tiếng xấu, những đàm tiếu, những chuyện buồn cười, những trò lố bịch, lối sống kỳ quặc. Họ bị người đời quên luôn, trở thành biệt vô âm tín, chẳng ai thèm nhắc đến. Thế là, coi như họ đã tự mình “lấy nhục làm vinh”.
    Cho nên, đạo đức, lối sống, tinh thần trách nhiệm, tác phong công tác, các mối quan hệ của người làm lãnh đạo là rất quan trọng. Khi lập kế hoạch, chương trình, nội dung cho công tác lãnh đạo của mình, ta thấy không ít vị do trình độ năng lực, do tùy hứng cá nhân, do cách sống mà làm những việc chẳng đâu vào với đâu. Họ “buông những cái cần phải nắm, nhưng lại đi nắm quá chặt những cái cần phải buông”. Không thiếu các vị lãnh đạo việc cần làm thì bỏ qua, nhưng lại mất quá nhiều thì giờ vào những việc sự vụ, thậm chí vụn vặt. Chọn vấn đề mà chỉ đạo, chọn việc để làm sao cho xứng với cái tầm của mình, đúng với chức danh, chức trachs của mình là rất cần thiết đối với mọi cương vị lãnh đạo. Nhưng họ lại đi lo giải quyết những việc lẽ ra là của nhân viên, của cấp dưới, của chuyên trách, chuyên ngành. Nhiều khi họ quên vả cương vị của mình.
    Họ bao biện, làm thay, muốn cái gì cũng toàn quyền, cũng từ đó mà sinh ra lo đuổi gà, quên nhà sắp cháy. Nhưng trái lại, các số liệu tổng kết, các thông số, thông tin cần thiết cho lãnh đạo thì họ lại bỏ qua. Như bài phát biểu, nội dung đi làm việc với đối tác, đối tượng, đối nội, đối ngoại lẽ ra bản thân người lãnh đạo phải biết tự chủ “vận suy”, tự trong đầu óc của mình phải nghĩ ra, sắp xếp thứ tự, nội dung, phương pháp. Nhưng, vì năng lực yếu kém, trình độ thấp, hiểu biết có hạn, vì lười biếng nữa, người lãnh đạo lại giao những việc đó cho trợ lý, thư ký, văn phòng. Là lãnh đạo, nhưng chỉ quen cái lối ăn sẵn, đọc những gì người khác đã viết, nói những gì người khác đã mớm, nói theo thói quen, mỗi câu đó đi đâu cũng nói, nghe phát nhàm chán.
    Những vị lãnh đạo không biết làm việc, vô trách nhiệm kiểu ấy còn có cái tật nói theo trình độ trợ lý, ký theo ngón tay văn phòng. Đi làm việc ở địa phương, cơ sở thì đến đâu cùng phát biểu trùng lặp nội dung, không có gì mới, không có gì là thiết thực, cụ thể với từng nơi, từng thời điểm. Những vẫn đề nổi cộm, những ách tắc, khó khăn và nhu cầu của địa phương, cơ sở chỉ chờ lãnh đạo về chỉ đạo cụ thể, tạo điều kiện và mở ra cách nào đó giúp cho địa phương thì không thấy, chỉ thấy ông ta và các thành viên trong đoàn công tác cười như hoa trong đoàn xe đưa đón dài ngoằng, cưỡi ngựa xem hoa, dự chiêu đãi, rồi về. Thế nên cán bộ và nhân dân địa phương bị tiu nghỉu, chưng hửng: “Ông ấy thăm và làm việc như thế, nhưng có giải quyết được vấn đề gì đâu”. Do quá ỷ lại, có khi không thuộc bài, khi đối ngoại còn đưa cái “phao” do trợ lý gạch đầu dòng, vừa tieps khách vừa liếc nhìn vào mảnh giấy bằng bàn tay, khác nào học sinh đi thi nhìn lén “phao cứu sinh”?
    Có những giấy mời hiểu hỉ, đi những cuộc chẳng cần đến cái chức vụ, chức danh, vị trí mình phải dự, nhưng họ cũng mất cả ngày cả buổi đi dự. Còn việc trọng yếu, những vụ việc cấp bách lại bỏ qua, để cho bê trễ, câu dầm, mặc dân chúng kêu ca phiền toái. Nơi cần lãnh đạo thì chẳng thấy ai đến. Nhưng có những hội nghị mà lãnh đạo cương vị cao làm “quý đại biểu” ở ngồi hàng ghế trước? Thông thường, dễ nhận ra là cuộc nào có phong bì “nặng giá trị”, nơi còn “quan hệ sống còn” thì nhiều lãnh đạo dự. Những cuộc thấy lợi cho dân, cần cho ngành thì ít ai đến dự. Để làm gì? Sao ai thích đi cứ đi? Không có sự phân công cụ thể, có đại diện là được rồi. Họ bị mất nhiều thời gian cũng bởi những việc “đại biểu” ấy. Quỹ thời gian chỉ có vậy, nhưng lại đi nước ngoài, lấy cớ công việc để đi du lịch, rồi đi họp, dự liên hoan, tiếp khách, lại việc gia đình, riêng tư, mối quan hệ này kia ngồn hết thời gian, chẳng làm được gì trong suốt nhiệm kỳ.
    Nhưng, trong các hiện tượng “buông” và “nắm”, có không ít lãnh đạo cũng biết “khôn lõi”, lợi dụng sự trúng phiếu, trúng ghế lãnh đạo như sự trúng mánh đầy mong đợi từ lâu. Thế nên, sinh ra “tư duy nhiệm kỳ”, và từ đó chỉ dồn thời gian, công sức cho “tư duy chức danh, quyền lực, thanh thế”, tranh thủ lợi dụng chức vụ quyền hạn lo thật nhiều cho “cái tôi”, buông chức trách, buông nhiệm vụ, nắm lấy mọi cơ hội để vơ vét, vụ lợi cho cá nhân, gia đình, dòng họ, mục đích là trong nhiệm kỳ phải vinh thân, phì gia, kệ cha thiên hạ. Những người lãnh đạo như thế đã buông lý tưởng cộng sản, buông hết những lời Bác Hồ dạy, chạy theo lợi ích cá nhân, chạy theo danh lợi một thời, ôm lấy quyền lực lo cho nhóm lợi ích, che chắn cho phe cánh để tiếp tay và dùng mọi thủ đoạn tham nhũng, tục trục lợi. Họ sẵn sàng buông nguyên tắc Điều lệ Đảng, buông 5 nhiệm vụ đảng viên và 19 điều đảng viên không được làm, buông luôn uy tín và danh dự cũng như lòng tự trọng của chính mình để nhằm mục đích tất cả chỉ vì đồng tiền, “đem quyền đời bố củng cố đời con”. Đó cùng là hệ lụy do những người trong số “một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên có chức có quyền”. Thiên hạ ai cũng thấy ngay trong nhỡn tiền sự cố tình hành động “buông” và “nắm” ấy của những người đã khoác áo, mượn danh cộng sản mà buông đạo đức, chỉ lo nắm tiền, vàng, đô la, nắm giữ quyền cao chức trọng để lo cho bản thân, con cái, dòng họ. Buông như thế, nắm như vậy, họ có còn xứng đáng với cái danh và phẩm chất, đạo đức của người cộng sản?
    Bùi Văn Bồng

  • + KHAI TRỪ ĐẢNG - khó vậy sao?

    KHAI TRỪ ĐẢNG – Khó vậy sao?

    Mới đây, Ban Chấp hành Ðảng bộ huyện Ðầm Dơi (Cà Mau) tổ chức cuộc họp bất thường xem xét thi hành kỷ luật đối với ông Lê Thanh Dư, Huyện ủy viên, Chi cục trưởng Chi cục Thuế huyện. Như các báo đã đưa tin: Ông Lê Thanh Dư có dấu hiệu cố ý bao che, làm trái quy định của Nhà nước để cho doanh nghiệp tư nhân Hoàng Khiêm xuất bán vàng cho Công ty Vàng bạc đá quý Sài Gòn SJC với số tiền hơn 7,4 nghìn tỷ đồng trong bảy tháng đầu năm 2010; trong khi doanh số bán hàng bình quân thể hiện trên sổ bộ thuế hơn 700 triệu đồng và nộp thuế hơn 5,7 triệu đồng/tháng và trốn thuế, gây thất thoát cho ngân sách nhà nước với số tiền gần 60 tỷ đồng. Với khuyết điểm trên, ông Lê Thanh Dư đã vi phạm quản lý tài chính cơ quan; thiếu tinh thần trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng trong quản lý thuế; cố ý làm trái quy định của Nhà nước. Ngoài ra ông Dư còn gây mất đoàn kết nội bộ. Với những sai phạm nghiêm trọng này, cuộc họp đã bỏ phiếu với sự nhất trí cao đề nghị cách chức Huyện ủy viên; khai trừ Ðảng và đề nghị xem xét, cách chức Chi cục trưởng Chi cục Thuế đối với ông Lê Thanh Dư.
    Trong các hình thức kỷ luật Đảng, khai trừ ra khỏi Đảng là hình thức kỷ luật cao nhất. Khi đảng viên ở bất cứ cương vị nào đã vi phạm kỷ luật, vi phạm Điều lệ Đảng, không hoàn thành 5 nhiệm vụ đảng viên, vi phạm 19 điêu fcaams đảng viên không được làm, đều phải bị kỷ luật.
    Đảng bộ Cà Mau kịp thời và nghiêm khắc xủ lý kỷ luật ở mức cao nhất đối với ông Lê Thanh Dư đã được dư luận rất đồng tình, hoan nghênh. Kỷ luật Đảng phải thật sự kịp thời, chính xác, nghiêm minh là rất cần thiết để làm trong sạch Đảng, trong sạch nội bộ lãnh đạo các cấp, thiết thực nâng cao sức mạnh và tính chiến đấu, nâng cao uy tín của một đảng cầm quyền trước nhân dân. Ngày 14-3-2012, Ủy ban Kiểm tra Trung ương khóa XI đã thông báo về kết quả kỳ họp thứ 10 của Ủy ban, do đồng chí Ngô Văn Dụ, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương chủ trì. Tại hội nghị này, Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã xem xét, kết luận quyết định thi hành kỷ luật ông Cao Minh Quang Ủy viên Ban Cán sự đảng, Thứ trưởng Bộ Y tế và ông Lữ Ngọc Cư, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Bí thư Ban Cán sự đảng, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Đắc Lắc bằng hình thức cảnh cáo (!:).
    Theo tác giả Nguyễn Thúy Hoàn, tại bài viết “Đã đủ nghiêm khắc?”, đăng trên Tạp chí Xây dựng Đảng Onlines ngày 18-3-2012: “Đây là lần đầu tiên trong nhiệm kỳ này, trong thông báo kết luận của Ủy ban Kiểm tra Trung ương nêu đích danh họ và tên cán bộ lãnh đạo, quản lý bị thi hành kỷ luật. Đây là việc làm cần thiết, đúng đắn, thể hiện quan điểm công khai, minh bạch, không nể nang, né tránh, có tính chiến đấu trong thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 "Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay". Cán bộ, đảng viên và nhân dân tin tưởng sẽ được tiếp tục thấy rõ “một bộ phận cán bộ đảng viên thoái hóa, biến chất” cụ thể là những ai trong thông báo kết quả các kỳ họp sau của Ủy ban Kiểm tra Trung ương. Điều này rất quan trọng, để người tốt, kẻ xấu không bị lẫn lộn, để những ai vi phạm thấy rõ sẽ bị nêu đích danh, người đời chê cười, người thân xấu hổ, để cán bộ, đảng viên cảnh tỉnh, không vi phạm.
    Tuy nhiên, theo tác giả bài viết: “Nêu đích danh chưa đủ sức giáo dục và răn đe mà quan trọng hơn là hình thức kỷ luật phải tương xứng với những vi phạm. Kết luận chỉ rõ: “Đồn chí Cao Minh Quang đã có những khuyết điểm, vi phạm như thiếu gương mẫu, vụ lợi khi vay tiền của cá nhân là lãnh đạo doanh nghiệp thuộc phạm vi phụ trách; phát ngôn, phản ánh không chính xác, thiếu thận trọng về một số vụ việc tại Bộ Y tế. Những việc làm của đồng chí Cao Minh Quang đã vi phạm tiêu chuẩn đảng viên và Quy định về những điều đảng viên không được làm, gây ảnh hưởng đến đoàn kết nội bộ, làm cho uy tín của cá nhân giảm sút…”. Vậy, chỉ có “uy tín cá nhân giảm sút thôi sao?” Chính những vi phạm trên của ông Cao Minh Quang - một cán bộ cao cấp của Đảng trong thời gian dài đã góp phần làm giảm uy tín của Đảng, giảm niềm tin của dân với Đảng!
    Tương tự như thế, ông Lữ Ngọc Cư, Chủ tịch UBND tỉnh Đấc Lắc đã có những khuyết điểm, vi phạm trong việc thực hiện Quy định số 51-QĐ/TW, ngày 19-4-2007 của Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa X về nhiệm vụ và quan hệ công tác của Thường trực Tỉnh ủy, Thành ủy, quy chế làm việc của Tỉnh ủy và một số quy định của Chính phủ, của bộ, ngành Trung ương thể hiện qua một số việc. Ông Cư đã có nhiều sai lầm xuất phát từ động cơ cá nhân trong việc ra chủ trương sử dụng sai quy định nguồn vốn trái phiếu Chính phủ cho nhiều dự án kém hiệu quả, điều hành, quan rlys sai nhiều nguồn quỹ khác. Vi phạm của ông Lữ Ngọc Cư là nghiêm trọng gây thiệt hại về kinh tế và gây dư luận xấu, làm ảnh hưởng đến vai trò lãnh đạo của tổ chức đảng và uy tín của cá nhân.
    Vấn đề đặt ra là những vi phạm “nghiêm trọng” mà lại xử lý ở mức cảnh cáo liệu có đủ nghiêm khắc và có tính cảnh tỉnh, răn đe? Trong việc thực thi kỷ luật đảng, thấy có những biểu hiện không bình thường: Đảng viên ở cấp cao, có chức có quyền, sai lầm lớn, nhưng chỉ phê bình, khiển trách, cảnh cáo. Người ta thấy số đảng viên bị hình thức kỷ luật cao nhất phần lớn là chức quyền thấp ở cơ sở, vụ việc mang tính đơn lẻ, cá nhân, ít có sựu dính líu của cấp trên, hoăc họ chi rlaf những đảng viên thường. Có câu: “Quan xử theo lễ, dân xử theo hình”. Nay trong việc kỷ luật Đảng cũng phân biệt “theo lễ, theo hình”, thì còn gì là chính xác, nghiêm mình, còn đâu dân chủ ngay trong Đảng?
    Về vụ ông Quang và ông Cư, cán bộ, đảng viên và nhân dân tiếp tục chờ xem hai “quan lớn” này sẽ tiếp tục được xử lý về mặt chính quyền ra sao. Hy vọng kết quả xử lý sẽ tương xứng với mức độ vi phạm, đủ độ nghiêm khắc, đủ sức cảnh tỉnh để cán bộ, đảng viên và nhân dân tin rằng Nghị quyết Trung ương 4 sẽ được thực thi thắng lợi bằng những việc làm cụ thể, nghiêm khắc, ngăn chặn, đẩy lùi tiêu cực nhằm xây dựng Đảng ta trong sạch, vững mạnh,
    Cách đây không lâu, TTXVN đưa tin: Ủy ban Kiểm tra Trung ương Đảng vừa xem xét hình thức kỷ luật một số đảng viên giữ chức vụ cao, theo đề nghị của “nhiều tổ chức đảng và đảng viên”. Một số tờ báo cùng đưa tin: Sau hai tuần họp tại Hà Nội cơ quan theo dõi đạo đức tư cách của đảng viên vừa đề nghị Ban bí thư "kỷ luật 5 đảng viên”, nhưng lại không nêu tên,chức danh cụ thể 5 người đó là ai. Những người này không phải là đảng viên thường. Trong số này có hai Tỉnh ủy viên, một người cấp tướng thuộc lực lượng công an, một Chủ tịch Hội đồng quản trị của tập đoàn kinh tế, một nguyên Thứ trưởng… Và đằng sau đó có lý do gì mà một số báo cũng đưa tin kiểu chung chung vậy thôi, không nêu tên hay chức vụ của những đảng viên có quyền chức lớn, đang bị đề nghị hình thức kỷ luật.
    Trong khi đó, có những trường hợp đã thông tin trên báo chí, nhưng sau đó được cấp có thẩm quyền xem xét, kết luận khác với thông tin công bố ban đầu thì kết luận sau cùng lại khong được cung cấp cho báo chí đăng như hình thức cải chính. Hình thức cung cấp thông tin cho báo chí về kỷ luật các tổ chức đảng và đảng viên là cần thiết, không nên để mang tiêng slaf thiếu công khai dân chủ.
    Trong vụ lùm xùm và tai tiếng ở Tiên Lãng (Hải Phòng), theo thông cáo báo chí phát đi tối cùng ngày, Ban chấp hành Đảng bộ TP và Ban thường vụ Thành ủy Hải Phòng quyết định kỷ luật ở mức cảnh cáo đối với một số tập thể và cá nhân mắc khuyết điểm, vi phạm dân chủ và các quy định pháp luật trong lãnh đạo, điều hành, đẻ xảy ra vụ thu hồi đất sai cả pháp luật và biện pháp cưỡng chế đối với ông Đoàn Văn Vươn. Nhưng hình thức kỷ luật cao nhất chỉ là khiển trách, cảnh cáo. Đúng ra, các sai phạm như nhiều đảng viên ở cương vị lãnh đạo từ xã, huyện, đến thành phố Hải Phòng phải áp dụng hình thức kỷ luật nặng nhất là khai trừ đảng, vì họ đâu còn xứng đáng được đứng trong hàng ngũ đảng lãnh đạo Những đảng viên sai phạm lớn như thế, những tập thể cấp ủy để sai phạm nghiêm trọng, làm mất uy tín đảng, mất lòng dân, gây hậu quả lớn về chính trị-xã hội mà chỉ bị khiển trách, cảnh cáo là quá nhẹ, không chính xác, chưa nghiêm minh trong thực thi kỷ luật đối với đảng viên. Đến tận bây giờ mà ông Lê Văn Hiền chưa bị khai trừ đảng là chuyện không bình thường. Lại có tin ông Hiền sẽ được điều lên làm chuyên viên sở Nội vụ của thành phố. Một cán bộ bị hỏng, sống nhiều thủ đoạn và ác, bị kỷ luật nặng, nay lại điều về cơ quan chuyên trách phân công, bổ nhiệm, quản lý, đánh giá, nhận xét cán bộ, chẳng biết chuyên viên về cái gì? Làm như thế có tùy tiện, vô lý không? Và nếu như gọi là “kỷ luật đá hất lên, kỷ luật kiểu điều động, thay vai” liệu có bị oan không?
    Đối với các vụ việc mà khuyết điểm đã được điều tra, xác minh làm rõ, trước hết phải kỷ luật đảng rồi mới đến kỷ luật về chính quyền, hoặc cùng tiến hành song song. Nhưng không hiểu sao có những cán bộ đảng viên vi phạm nặng, chỉ bị kỷ luật về mặt chính quyền, còn về kỷ luật đảng hầu như vô can? . Đúng ra, kỷ luật đảng phải phải trước một bước, hoặc đi liền với thực thi pháp luật. Những vấn đề nêu ra trong Nghị quyết thể hiện Đảng ta đã “bắt mạch” được trúng bệnh. Bây giờ quan trọng nhất là thực hiện trong thực tế đến đâu? Nếu như việc kiểm điểm chỉ trong nội bộ với nhau, không công khai minh bạch thì hiệu quả thực hiện nghị quyết sẽ rất thấp, thậm chi snhuwngx kiên quyết và những biện pháp cho dù có hợp lý cũng chỉ nằm trên giấy. Bác Hồ từng nói: “Một Đảng mạnh, một Đảng chân chính thì sẽ không sợ công khai những khuyết điểm của mình. Một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm là đảng bị hỏng”.
    Muốn sửa các sai lầm khác, thì khâu tổ chức cán bộ phải được làm trước. Đây là khâu then chốt của then chốt. Phải chọn ra được người có tài, có đức để lãnh đạo đảng và lãnh đạo chính quyền các cấp. Từ lãnh đạo này chúng ta mới có những chủ trương, chính sách đi vào cuộc sống của người dân. Trước hết là phải giải quyết tốt khâu tổ chức, cán bộ, bố trí đúng người đúng việc. Không giải quyết khâu này thì không cách gì mở sang khâu khác được. Những sai lầm và khuyết điểm trong lãnh đạo bắt nguồn từ những khuyết điểm trong hoạt động tư tưởng, tổ chức và công tác cán bộ của Đảng. Đây là nguyên nhân của mọi nguyên nhân.
    Muốn có được như vậy thì phải thực sựu coi trọng bảo đảm dân chủ, không để tình trạng móc ngoặc, các nhóm lợi ích thao túng. Còn nếu như vẫn làm kiểu cũ như dựa vào chủ nghĩa lí lịch, thành phần gia đình... thì sự trì trệ rất chậm được thay đổi. Vì vậy một người lãnh đạo, một cán bộ đảng viên muốn người dân nghe và làm theo thì nói phải luôn đi đôi với làm, phải tiền phong, gương mẫu trong mọi việc.
    Một vị lãnh đạo cấp cao đã từng đặt ra câu hỏi “Nếu kỷ luật hết thì lấy ai mà làm việc?”. Dư luận cho rằng, nói như thế là không đúng. Và cũng coi như một sự tự công nhận là đảng viên ta trong bộ máy lãnh đạo bị hỏng qua nhiều rồi. Thực ra, nếu nhìn trong cơ cấu một đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt, có chức có quyền chỉ loanh quanh bầu bán, giới thiệu đưa nhau lên trong nhóm lợ ích, cánh hẩu, bè cánh, ê kíp thì sự hư hỏng như nhau là tất yếu. Từ đó, suy ra “nếu kỷ luật hết hết lấy ai mà làm việc” cũng đúng. Nhưng đảng ta đâu đến mức như vậy?
    Trước cách mạng Tháng Tám năm 1945, Đảng ta chưa được 1.000 đảng viên, mà đã lãnh đạo toàn dân khởi nghĩa thắng lợi, cách mạng thành công. Nay Đảng ta đã có trên 3.000.000 đảng viên, một đội ngũ đông đảo. Chẳng lẽ kiên quyết, nghiêm khắc khai trừ đảng đối với những đảng viên không còn đủ tư cách, không còn xứng đáng sợ bị mất đảng viên? Trong thực trạng biểu hiện suy thoái trong đảng đã rõ nét và cấp bách như hiện nay, thà có bị mất đi số lượng lớn trong đội ngũ cán bộ lãnh đạo có chức có quyền, từ đó thực hiện dân chủ, khách quan chọn lọc kỹ, tìm người xứng đáng thay thê, còn hơn cứ để bùng nhùng như mớ bòng bong, gỡ cách nào cũng không ra. Hy vọng kết quả xử lý kỷ luật đảng theo đúng thực trạng mà Nghị quyêt T.Ư 4 vạch ra sẽ được thực hiện kịp thời, chính xác, nghiêm minh, không có nương nhẹ, không chần chừ câu dầm, không có sự bao che, thì sẽ thieth thực ngăn chặn, đẩy lùi tiêu cực, nhằm xây dựng Đảng ta trong sạch, vững mạnh, Đảng chỉ gồm những đảng viên ưu tú, tiên phong, gương mẫu, thực sự vì hạnh phúc của dân. Như các văn bản Hội nghị T.Ư 4 đã nếu rõ: Trước yêu cầu mới của nhiệm vụ cách mạng, trước thực trạng một số yếu kém, khuyết điểm, hơn lúc nào hết, Đảng ta càng phải đặc biệt coi trọng hơn nữa nhiệm vụ xây dựng Đảng như Đại hội XI đã chỉ ra, tạo bước chuyển thực sự trong công tác này. Điều quan trọng có ý nghĩa quyết định là: Ban Chấp hành Trung ương phải có quyết tâm rất lớn, có sự thống nhất rất cao, có biện pháp thực hiện quyết liệt, khả thi, chỉ đạo chặt chẽ với một phương pháp tư duy đúng đắn, tỉnh táo, bình tĩnh, không cực đoan, nói và làm phải song hành. Mong rằng, với truyền thống và bản chất tốt đẹp của Đảng ta, với quyết tâm chính trị rất cao của toàn Đảng, lại được nhân dân đồng tình, ủng hộ, nhất định chúng ta sẽ vượt qua mọi khó khăn, thực hiện thắng lợi Nghị quyết Trung ương 4, tạo bước chuyển biến mới trong công tác xây dựng Đảng, làm cho Đảng ta ngày càng trong sạch, vững mạnh.

    Bùi Văn Bồng

  • Ổn thỏa hay không là do Trung Quốc

    “ỔN THỎA” HAY KHÔNG
    LÀ DO CHÍNH TRUNG QUỐC!
    * Bùi Văn Bồng
    Theo trang web của Đài phát thanh Quốc tế Trung Quốc – CRI: Ngày 31/3-2012 trước thềm Hội nghị thường niên Diễn đàn châu Á Bác Ngao, tổ chức ở Hải Nam, Phó Thủ tưởng Trung Quốc, ông Lý Khắc Cường, đã có cuộc hội kiến với Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải, Đại diện Chính phủ Việt Nam tham dự hội nghị. Hai ông có bàn thảo về các vấn đề tranh chấp trên Biển Đông được đưa vào nghị trình Hội đàm Trung - Việt tại hội nghị này. Trong cuộc hội kiến, ông Lý Khăc Cường đã kêu gọi Việt Nam "xử lý ổn thoả" tranh chấp giữa hai nước trên Biển Đông mà Bắc Kinh gọi là Nam Hải. Ông Lý Khắc Cường nói: "Trung-Việt xử lý ổn thoả vấn đề Nam Hải, giữ gìn quan hệ hai nước phát triển lành mạnh ổn định" (!:).
    Điểm đáng lưu ý là CRI không hề đưa phát biểu của Phó thủ tướng Hoàng Trung Hải tại buổi hội kiến này chính thức yêu cầu TQ thả vô điều kiện 21 ngư dân bị phía TQ bắt giữ trái phép và chấm dứt việc tổ chức đua thuyền trong vùng biển Hoàng Sa thuộc chủ quyền của VN. Tại sao ? Nếu hành động của phía TQ là "đúng đắn" thì CRI sẽ đưa tin quảng cáo rùm beng về cái gọi là chủ quyền "không thể tranh cãi" như bấy lâu nay! Nhưng đây là sự kiện mà Trung Quốc đang né tránh dư luận, việc làm sai, lại càng sợ ông Hải đưa ra gay gắt ở Hội nghị này.
    Nếu như ông Cường nói về việc giải quyết “ổn thỏa”, để được yên lành trên biển Đông, thì đó chính là nguyện vọng thiết tha của nhân dân Việt Nam. Là người dân của nước Việt không may mắn bị chiến tranh xâm lược cả mấy nghìn năm nay, chưa hết sự lăm le liên tục “truyền kiếp, nối đời” đánh chiếm để đô hộ của các triều phong kiến Trung Quốc (giặc phương Bắc), lại đến giặc phương Tây (Pháp, Mỹ và nhiều nước đồng minh), cho đến tận năm 1975 mới giành được độc lập, thống nhất đất nước. Thế nhưng, dù cho dạo đó tại Lễ kỷ niệm mừng toàn thắng, có lẽ do niềm vui “dâng trào” quá đỗi, cố Tổng bí thư Lê Duẩn đã tuyên bố hơi bị chủ quan rằng: “Đất nước ta từ đây vĩnh viễn sạch bóng quân xâm lược”. Ngờ đâu, ngay sau đó VN lại phải đối phó quyết liệt và gay gắt với chiến tranh biên giới Tây Nam và chiến tranh biên giới phía Bắc (mà truy nguyên cả hai cuộc chiến này đều do chủ mưu Trung Quốc gây nên.
    Việt Nam hoàn thành vẻ vang cách mạng giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước đã được 37 năm, nhưng thực sự VN mới được tạm yên để cả nước dồn sức, tận lực vượt qua đói nghèo xây dựng đất nước được 24 năm, từ khi VN bước vào sự nghiệp đổi mới (1989), mới rút hết quân tình nguyện từ Campuchia về nước. Thế nhưng, vấn đề đường biên giới với các nước láng giềng, chủ quyền lãnh hải, thềm lục địa, vùng mỏ dầu và nhất là các quần đảo trên biển Đông vẫn còn đặt ra những tiềm ẩn đầy bất ổn. Thật vậy, đất nước tuy thống nhất, nhưng lãnh thổ, lãnh hải chưa trọn vẹn. Vấn đề hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa vẫn là nguyên nhân gây bất ổn cho sự phát triển trong hòa bình của Việt Nam. Vì vậy, nay tuy gọi là được hòa bình, nhưng đi vào thực chất thì chưa bền vững, nguy cơ chiến tranh vẫn luôn luôn rình rập thường trực hàng ngày. Vì vậy, hơn ai hết, người VN rất mong được sống trong hòa bình, ổn định để dựng xây đất nước.
    Nhắc lại lời Phó thủ tướng TQ Lý Khắc Cường, rằng: “Trung-Việt xử lý ổn thoả vấn đề Nam Hải, giữ gìn quan hệ hai nước phát triển lành mạnh ổn định". Nói ra được điều đó là cần thiết và đúng đấy, có thể đây cũng là động cơ xây dựng để quan hệ hai nước tốt đẹp hơn nữa. Nhưng, vì TQ đã nhiều lần nói mà không làm, hoặc nói thì hay, tưởng ngon, mà làm ngược lại. Cho nên, khi nghe ý kiến này của ông Cường, người ta nghĩ ngay, như cách nói của người dân Nam bộ, là có vẻ gì đó “ba xạo” rất khó tin. Phải chăng ông Phó thủ tướng TQ này muốn đưa ra một quả bóng thăm dò, đây là thủ đoạn chúng ta thường thấy của nhà cầm quyền Bắc Kinh. Thăm dò cái gì? Thăm dò xem khi nói như thế, xem ông Hoàng Trung Hải có ý kiến gì không, biết hơi hướng mà đối phó, đối sách; lại một phần xoa dịu để đại diện chính phủ VN có “hạ hỏa” bớt gay gắt những điều bức xúc, chưa thông thỏa với TQ trong các vụ việc gây rối trên biển Đông thời gian qua. Và cũng phòng ngừa khả năng nếu như đại diện của VN có phát biểu trong Hội nghị Bác Ngao cũng giảm bớt “volume” lại, tránh gây tai tiếng cho nước chủ nhà, không khéo chặn trước có mà mất mặt với Châu Á và thế giới; Thứ hai, gây ấn tượng về một thái độ “hiếu hòa” của nhà cầm quyền TQ với các đại biểu tham dự Hội nghị Bác Ngao lần này, để rồi ít ra người ta cũng cho là Trung Quốc chưa đến nỗi gì, vẫn có "thiện ý" (!:).
    Thế thì, “khẩu khí tùy cơ hóa xuất” theo bài bản TQ đã được ông Lý Khắc Cường vận dụng trong buổi hội kiến với ông Hoàng Trung Hải. Thực ra, cả thế giới đều biết, “ổn thỏa” trên biển Đông hay không là do chính phía Trung Quốc chứ có do ai khác mà ông Cường phải “đá quả bóng” trách nhiệm sang phía VN như vậy? Đó cùng là cái lối “đánh bùn sang ao” chứ nào có hay hớm gì. Sự mất “ổn thỏa” là do phía Trung Quốc thường xuyên, đủ trò quấy rối trên biển Đông trong hơn mấy thập kỷ qua đã gây ra. Muốn trời yên biến lặng, ai lại muốn “biển Đông liên tục dậy sóng” như hàng mấy chục năm qua? Nhìn lại xưa nay, từ lịch sử cổ đại đến ngày nay, thấy ông láng giềng phương Bắc mà biết bao chất chồng ái ngại. Họ luôn luôn nhòm ngó mảnh đất nhỏ nhoi, mỏng dính sát biển Đông này, ở ngay phía Nam của đại cường quốc, phải hoàn toàn thuộc về họ. Cho nên, đã thành truyền kiếp nối đời, kẻ nào lên ngôi trị vì “thiên triều” cũng không thể quên “trọng trách Đại Hán” là phải “chinh phục” cho được VN. Để VN phải là một tỉnh của họ, phải là “dân tộc” Việt thiểu số trong "đại gia đình" các dân tộc Trung Hoa. Vì tham vọng bành trướng bá quyền của một nhóm máu Đại Hán đó, mà VN từ bao đời nay thật liêu xiêu với TQ. Nhìn lại cuối thế kỷ 19, giặc Thanh bị VN đánh cho tơi tả, ôm đầu máu chạy về nước. Coi như quân xâm lược nhà Thanh là giặc phương bắc cuối cùng. Nhưng chưa, lúc đó nhà Thanh vẫn rắp tâm phục thù, giả như thực dân Pháp, lúc đó thế mạnh hơn TQ rất nhiều mà không xâm chiếm VN, thì liệu rằng nhà Thanh có thấm nỗi nhục thua trận của các đời trước, và nỗi nhục thất kinh của chính mành mà để cho VN được yên hay không?
    Thời đó, nhà Thanh được sử ghi là Đế quốc Mãn Châu, vì cái gốc từ dòng họ Aisin Gioro (Ái Tân Giác La) ở Mãn Châu, cờ nhà Thanh có con rồng muốn đớp cả mặt trời, thì trái đất này đối với họ coi như còn quá nhỏ hẹp. Nhà Thanh tuyên bố Thiên mệnh, chủ trường “Liên minh với nhiều nước để họ kiềm chế lẫn nhau và mượn tay kẻ thù này tiêu diệt kẻ thù kia”. Sau khi chiếm Trung Hoa của nhà Minh, và chinh phục năm nước chư hầu, các hoàng đế nhà Thanh đã từng bước mở rộng đế chế của mình thông qua các cuộc chiến tranh xâm lược và sát nhập lãnh thổ nước khác. Họ đã chiếm thêm được Tân Cương, Tây Tạng, Đài Loan, một phần Kazakhstan, Kyrukistan, Uzbekistan ngày nay và cùng với Mông Cổ, Triều Tiên trước đó vào cương thổ đế chế của mình. Họ chỉ thất bại trước Đại Việt và Miến Điện khi tiến xuống Đông Nam Á vào nửa sau thế kỷ 18. Nhưng rồi máu me “hùng khí một phương, đại dương mở cõi”, nhà Thanh lúc đó bị thua đau ở nước Việt vẫn chưa hết hằm hè nuôi chí phục thù, tái chiếm đất Việt để mở thế lực xuống Đông Nam Á.
    Trước thời cách mạng Tôn Dật Tiên, rối đến Mao Trạch Đông, TQ là đế quốc Đại Hán, đế quốc Mãn Châu nổi tiếng hùng cứ một phương bao la còn hung hăng đi xâm lược khắp nơi kia mà. Pháp xâm lược Việt Nam năm 1858, khi đó nhà Thanh đã biểu hiện nhiều xuống cấp do quan liêu, lại bị Anh, Nhật hăm he, bị đế quốc Nga ép phía Bắc, cái thế ấy không giúp nhà Thanh phục thù tái xâm lăng Việt Nam. Cho đến năm 1912, vua Phổ Nghi thoái vị, kết thúc hơn 2.000 năm đế quốc Trung Quốc. Cái máu xâm lăng các nước láng giềng còn hừng hực chứ đâu có được “đổi máu” chút nào. Nhưng do tình thế lúc đó, với sự xuất hiện của Anh, Pháp, Nga, Nhật trong khu vực, Trung Quốc đành co lại một cách vạn bất đắc dĩ. Chủ nghĩa cơ hội, thực dụng Bắc Kinh trỗi dậy. Cho nên, người ta vẫn không khỏi nghi ngại việc đi theo Chủ nghĩa Mác-Lê nin và thành lập Đảng Cộng sản, đi lên CNXH của TQ là thật, hay giả đấy? Hay là lúc đó giả bộ để được Liên Xô trợ giúp. Cách mạng vô sản Nga thắng lợi sau khi đánh gục phát-xít Đức, thì 4 năm sau TQ thành lập Đảng Cộng sản theo Lê-nin để có chỗ dựa, có cơ hội khỏi bị Nhật đánh, Pháp đe, Mỹ dọa, Anh ăn hiếp chứ gì? Đảng Cộng sản Trung Quốc thành lập năm 1921, nay cũng mạnh lắm, có tới hơn 70 triệu đảng viên, gần bằng dân số cả nước Việt Nam, sao lại quên lời Mác: “Vô sản toàn thế giới liên hiệp lại”? Làm gì có Đảng Cộng sản và CNXH lại ứng xử với các nước láng giếng như thế? Và ngay cả trên thế giới, thử hỏi hiện nay có mấy ai "vui vẻ" với thái độ trịch thượng nước lớn của Trung Quốc? Với giấc mộng bá quyền và lòng tham mở rộng cương thổ như đã nêu, nhà Thanh đã không dễ gì buông tha cho VN. TQ thấy Pháp xâm lược VN mà tức tối, tức vì miếng mồi vẫn đang nhăm nhe bị người khác lăm le muốn cướp giật mất.
    Thế nên, suy cho cùng cả mấy nghìn năm lịch sử, VN mới được coi là tạm yên trong hòa bình từ năm 1990, sau khi VN rút quân tình nguyện từ Campuchia về nước năm 1989. Mặc dù TQ vẫn không ngừng quậy phá, trong 24 năm được gọi là tạm yên thôi, đâu có được yên ổn hoàn toàn mà lo làm ăn được với cái xứ “giặc xưa phương Bắc” đã từng nghìn năm đô hộ dân tộc Việt. Ai ngu gì mà đang yên hàn lại tự gây bất ổn, cho nên, ông Cường nói “Trung-Việt xử lý ổn thỏa”, nghe rất lạ tai. Không riêng Việt Nam, các nước có lãnh hải trên biển Đông đều bị TQ chọc chĩa, phá ngang, muốn chiếm hết. Cái đường lưỡi bò (lưỡi quỷ) mà TQ tự vẽ hải đồ cùng liếm mất quá 80% biến Đông rồi, diện tích lãnh hải còn lại của các nước láng giềng với TQ nếu chia đều thì mỗi nước chưa được 5% !
    Thế thì các nước sẽ sống sao đây? Thế nên, phía Trung Quốc đừng nên kêu gọi VN hay bất cứ nước nào về sự “ổn thỏa”. Ông làm cho ngưởi ta không “thỏa” sao mà “ổn” được. Muốn “ổn thỏa” thì phải thực sự bỏ đi cái mưu đồ tham lam bành trướng, bá quyền nước lớn, phải tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của các nước láng giềng. Nếu có sự bất đồng nào thì phải bình đẳng cùng trao đổi song phương, đàm phán “thỏa thuận” với nhau trên cơ sở xây dựng, vun đắp cho tình hữu nghị lâu bền giữa hai nước. Còn như gây sự, chọc dò, gây ra sự kiện xung đột làm mất an ninh biển Đông-- với cách làm thô bạo theo chủ trương của TQ - đã liên tục tiến hành trong mấy thập niên qua thì làm sao mà “ổn thỏa” cho được?
    Thời gian qua, mặc dù trong tâm tư vẫn chưa dễ quên được cái khứ đau thương gần nhất là chiến tranh biên giới Tây Nam do Pôn Pốt, đệ tử trung thành của TQ gây ra, rồi lại phải nhận “bài học” của TQ “dạy” ở biên giới phía Bắc, VN cũng xác định quan điểm “khép lại quá khứ, vươn tới tương lai”, không chấp nữa, tiếp tục bắt tay hữu nghị, "hảo hảo" trên cơ sở “16 chữ vàng” và quan hệ “4 tốt”. Thế nhưng, dù vậy cũng đâu có dễ mà được yên bề làm ăn với siêu cường bá chủ?
    Trong nhiều lần thăm, tiếp xúc, hội kiến, tọa đàm, khá là đủ kiểu đủ cấp rồi, vậy mà nay cũng đâu có được để yên? Hẳn rằng các nhà lãnh đạo VN mặc dù rất khó chịu với thái độ trịch thượng nước lớn của nhà cầm quyền TQ, nhưng cũng biết phận nước nhỏ, vừa qua chiến tranh chưa kịp thở, nghèo, nhiều việc phải làm, cho nên đã cố nuốt giận. VN kiên cường chống giặc ngoại xâm, thế giới đều công nhận người VN rất mong có hòa bình, thích hòa đồng, nhu mì, hiền lành, mến khách, nhưng vẫn luôn luôn tâm niệm “không có gì quý hơn Độc lập-Tự do”. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước, đó là truyền thống cực kỳ quý báu. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tình thần yêu nước ấy càng dây lên mạnh mẽ”. Với bản lĩnh, ý chí ấy của VN, cũng như hàng mấy nghìn năm lịch sử đã chứng minh, xin thưa rằng đụng đến VN không dễ đâu. Người dân Việt hiện nay cũng học tập và noi theo tấm gương đạo đức, làm như Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Tôi luôn luôn là một người yêu nước, tranh đấu cho độc lập và thống nhất thật sự của Tổ quốc tôi ” và : “ Tôi hiến cả đời tôi cho dân tộc tôi ”.
    Như trên đã nói, sự nhịn nhường của VN hoàn toàn không phải là nhu nhược, là xuống thế, là hèn kém mà là do tính cách, sự nhu thuận đã thành truyền thống của người Việt từ bao đời nay vì luôn mong muốn được sống trong hòa thuận với các nước láng giềng . Nhưng đừng vì thấy nhân nhượng mà lấn tới. Khi bị dồn vào thế chân tường, phản ứng chống lại của VN cũng không vừa. Từ quan điểm đối ngoại của Đảng Cộng sản VN khi đã giành được hòa bình, thống nhất đất nước: “Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước”, sự nhịn nhường, tổng hòa các mối quan hệ đối ngoại với thế giới để cùng tồn tại trong hòa bình, hơp tác phát triển là tất yếu.
    Tuy vậy, cũng xuất phát từ ý định, gác lại những tranh chấp, bất đồng, lấy hòa khí làm trọng, cho nên gần đây, Trung tướng Nguyễn Chí Vịnh, thứ trưởng quốc phòng đã thông báo với phía Trung Quốc rằng Chính phủ Việt Nam sẽ kiên quyết xử lý vấn đề tụ tập đông người ở Việt Nam’, và dứt khoát ‘không để sự việc tái diễn’ (theo tường thuật của Thông tấn xã Việt Nam) trong bối cảnh ở Hà Nội và TP HCM diễn ra nhiều cuộc biểu tình phản đối hành động xâm lấn của Trung Quốc. Để giữ lời hứa giữa hai bên qua các hội đàm song phương, Việt Nam đã buộc phải ngăn chặn biểu tình, một cuộc biểu tình không chống chính phủ nước mình mà là phát xuất từ lòng yêu nước, yêu cầu Trung Quốc đừng đụng đến VN, để nhân dân VN còn kịp thở sau các cuộc chiến tranh “nối đời ra trận”, muốn được yên lành làm ăn, xây dựng lại tổ quốc. Mà cũng vì sự “hạ cố bất đắc dĩ” khi đã hứa làm tốt “16 chữ vàng” VN đã bắt công dân của mình chịu “khổ chục kế” vì nghĩa lớn. Nói ra thế, nhưng đau lắm chứ. Vì muốn nhịn nhường mong may ra sớm được yên chuyện, giữ hòa khí, tránh xung đột lớn, nhất là xung đột chiến tranh chẳng hay ho gì mà hai bên ai cùng thiệt hại, VN đã phải”xuống nước” như thế, còn đòi hỏi gì nữa. Dân mình vì yêu nước, vì bức xúc, vì thấy mới giành được độc lập dân tộc mà lại có kẻ lăm le giật đi, phải tỏ thái độ quyết liệt là đương nhiên. Ngăn chặn biểu tình, phải "tỏ ra sự cương quyết" như vậy là vi phạm dân chủ. Bắt giam người biểu tình, biết là vi phạm nhân quyền đấy, nhưng cũng vì chỉ mong được sự “ổn thỏa” mà thôi. Tại sao TQ không nhận ra điều đó. Còn muốn “ổn thỏa” kiểu gì? Không ‘thỏa” sao “ổn “được?
    Vậy mà cho đến bây giờ, TQ đâu có tạo điều kiện cho ổn thỏa? Vậy đấy, nhưng Trung tướng Nguyễn Chí Vịnh, một trong những quan chức cấp cao đầu tiên trong chính quyền Trung ương của VN, phải công khai ủng hộ thông báo ngăn chặn biểu tình vốn đang bị một số người công kích về tính pháp lý. Đó cũng là vì cái gì mà có sự thể phải hạ cố trong buổi gặp gỡ Thượng tướng Mã Hiểu Thiên, Phó Tổng tham mưu trưởng Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc, đã ‘thẳng thắn trao đổi’ những vấn đề còn khác biệt trong quan hệ hai nước. Theo ông Nguyễn Chí Vịnh, ‘xử lý mối quan hệ Việt Nam – Trung Quốc’ là một khía cạnh của tranh chấp trên Biển Đông. Và dù rất đau lòng và khó chịu, nhưng tướng Vịnh cũng phải tuyên bố mạnh mẽ, ý định miễn làm sao cho êm, cho có hòa khí rằng: “Việt Nam không bao giờ dựa vào bất kỳ một nước nào để chống Trung Quốc”. Tướng đối ngoại Nguyễn Chí Vịnh đã phải xuê xoa: "Nếu Việt Nam cần sự ủng hộ, đồng cảm, hợp tác và phát triển thì còn có ai hơn một nước Trung Quốc xã hội chủ nghĩa láng giềng... một khi các đồng chí tôn trọng độc lập chủ quyền của Việt Nam và mong muốn Việt Nam cùng phát triển?".
    Nhưng về mặt quan điểm, và cũng thể hiện bản lĩnh, ý chí Việt Nam, Tướng Vịnh cũng nhắc lại cơ sở để giải quyết các tranh chấp ở Biển Đông là luật pháp quốc tế vì đó là những vấn đề mang tính quốc tế và những vấn đề chỉ liên quan đến hai nước thì chỉ cần hai nước giải quyết với nhau, khẳng định rõ: “Việt Nam không bao giờ nhượng bộ vô nguyên tắc về chủ quyền”. Những khẳng định của tướng Vịnh có thể coi như là động thái trấn an Bắc Kinh vốn đang lo ngại Mỹ can thiệp vào tranh chấp ở Biển Đông và thể hiện thái độ dứt khoát của Hà Nội. Ông còn nói: “Chúng ta cần làm cho nhân dân hai nước hiểu rõ, giữa Việt Nam và Trung Quốc còn tồn tại vấn đề, nhưng hai Đảng, hai Nhà nước đã cam kết xử lý bằng biện pháp hòa bình, theo luật pháp quốc tế, với giải pháp hai bên cùng có thể chấp nhận được,”. Thượng tướng Mã Hiểu Thiên đáp lại “Hòa bình hai bên đều có lợi. Đối đầu hai bên đều thiệt hại”. Vậy, nhà cầm quyền Bắc kinh còn gì mong “ổn thỏa” hơn nữa.
    Thực trạng VN từ sau khi đánh thắng Mỹ -ngụy đến nay là “cây muốn lặng, gió chẳng đừng”. Khi mà tưởng như được yên lành trong hòa bình, độc lập, tự do thì ngay trước khi chưa giải phóng miền Nam đã bị Trung Quốc ngang nhiên đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa. Tiếp đến là Bắc Kinh bày trò cho Pôn Pốt gây chiến ở biên giới Tây Nam, rồi lại phải đấu trận với TQ ở toàn tuyến biên giới phía Bắc, lại đấu trận với TQ để giữ chủ quyền quần đảo Trường Sa, nay lại phải khổ ải không yên về việc an ninh Biển Đông, với cái Đường Lưỡi Bò dài ngoằng qua suốt vùng biển Việt Nam đến tận Úc Đại Lợi. Không hiểu sao ông Tàu lại gọi vùng quần đảo xa xôi cách cả chục tầm đại dương mênh mông là Úc Đại Lợi? Muốn "vơ" đại lợi xuống tận Nam bán cầu chứ gì?
    Nhưng, để được “ổn thỏa”, Việt Nam cũng không quên tỏ rõ lập trường quan điểm và thái độ trước những hành động của phía TQ liên tục vi phạm chủ quyền lãnh hải trên Biển Đông. Phó Thủ tướng VN Hoàng Trung Hải tiếp xúc với người đồng nhiệm TQ Lý Khắc Cường tại Hội nghị Bác Ngao - 2012: "Việt Nam kiên quyết phản đối hành động bắt giữ tàu và ngư dân Việt Nam của phía Trung Quốc, yêu cầu phía Trung Quốc thả ngay và vô điều kiện các ngư dân và tàu cá nói trên, chấm dứt việc bắt giữ, cản trở ngư dân Việt Nam tại các vùng biển của Việt Nam”
    Và bản lĩnh, ý chí ấy cũng thể hiện dứt khoát qua tuyên bố của Người phát ngôn Bộ ngoại giao VN, ông Lương Thanh Nghị: “Quần đảo Hoàng Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam. Việc Trung Quốc bắt giữ, cản trở ngư dân Việt Nam đang hoạt động nghề cá tại vùng biển thuộc quần đảo Hoàng Sa đã xâm phạm nghiêm trọng chủ quyền, các quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam".
    Ông Lương Thanh Nghị cũng tỏ ra thẳng thắn lên án phía Trung Quốc "đã xâm phạm nghiêm trọng chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán của Việt Nam, đi ngược lại tinh thần đối xử nhân đạo đối với ngư dân, đe dọa nghiêm trọng tính mạng và gây thiệt hại nặng nề về tài sản cho ngư dân Việt Nam", rằng: “Việt Nam có chủ quyền không tranh cãi đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa". Trong quan hệ song phương với Trung Quốc, Việt Nam cũng cho biết sẽ "khởi động đường dây nóng giữa hai Bộ Ngoại giao để kịp thời trao đổi, xử lý thỏa đáng các vấn đề phát sinh trên biển".
    Vì những lẽ trên, ông Phó Thủ tướng Lý Khắc Cường đừng lo, Việt Nam đã có quá nhiều nỗ lực để thể theo sở nguyện của ông: "Trung-Việt xử lý ổn thoả vấn đề Nam Hải”. Ổn thỏa được ư? Sẽ có an ninh thật sự trên Biển Đông ư? Rất mong ở “thiện ý” và những thể hiện cho chuẩn xác từ lời nói đến việc làm của phía Trung Quốc. Chỉ sợ rằng ông Cường chỉ nói để thăm dò và đối phó tình huống thôi, sau đó, khi đạt được ý định trước mắt rồi lại quên luôn hoặc cố tình làm trái ngược.
    BVB

1 2 3